Tỷ lệ thụ tinh cao gần gấp đôi so với phương pháp thụ tinh trực tiếp, khắc phục được những hạn chế của gà Hồ như sinh sản kém, độ thuần chủng chưa cao… phương pháp thụ tinh nhân tạo giống gà Hồ đã góp phần vào việc bảo tồn giống gà quý tiến vua này.
Tỷ lệ thụ tinh cao gần gấp đôi
Gà Hồ là giống gà xưa dùng để tiến vua, được phát hiện và nuôi tại thôn Lạc Thổ, thị trấn Hồ, huyện Thuận Thành, Bắc Ninh, với ‘tuổi đời’ trên 600 năm, không chỉ cho chất lượng thịt thơm ngon mà còn có vóc dáng to khỏe, đẹp, cân đối, dũng mãnh.
Tuy nhiên, gà Hồ có những điểm hạn chế như: Đẻ thưa, đẻ ít trứng, ấp và nuôi con vụng hơn các giống gà ri, gà kiến, gà pha, đặc biệt vào mùa hè và mùa đông, tỷ lệ nở con rất thấp do không phù hợp.
Mặt khác, cũng giống như nhiều giống gà bản địa khác, gà Hồ chịu sự thay đổi liên tục và khắc nghiệt của thiên nhiên và từng có gian đoạn bị con người lãng quên do áp lực của cơ chế thị trường như chạy theo năng suất cao, tập trung cho giống ngoại nhập, bỏ bê giống địa phương… làm cho giống gà Hồ bị giảm số lượng đáng kể và bị lai tạp nhiều.
Xuất phát từ thực tế đó, thạc sỹ Đào Lệ Hằng, Cục Chăn nuôi, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã tiến hành thực hiện đề tài “Nghiên cứu ứng dụng công nghệ thụ tinh nhân tạo và bảo tồn giống gà Hồ ở thôn Lạc Thổ, thị trấn Hồ, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh” nhằm đánh giá thực trạng chăn nuôi, bảo tồn giống gà Hồ; đánh giá chất lượng tinh dịch gà Hồ; xác định hiệu quả của phương pháp thụ tinh nhân tạo cho gà Hồ so với thụ tinh trực tiếp thông thường…
Thụ tinh nhân tạo để bảo tồn giống gà Hồ
Ông Nguyễn Đăng Chung kiểm tra trứng mới đẻ trong lô gà của gia đình mình
Theo chị Hằng, trong 20 đề tài nghiên cứu về gà Hồ thì 2/3 số đề tài mới chỉ tập trung nghiên cứu về các đặc điểm cơ bản mà chưa có bất cứ đề tài nào nghiên cứu về phương pháp thụ tinh nhân tạo giống gà này.
TS Võ Văn Sự – nguyên Trưởng bộ môn Động vật quý hiếm và đa dạng sinh học, Viện Chăn nuôi quốc gia, cho biết, phương pháp thụ tinh nhân tạo trong vật nuôi không phải là phương pháp mới, nhưng với giống gà có ngoại hình lớn như gà Hồ, việc phối giống giữa con trống và con mái khó hơn các giống gà khác, nên phương pháp này có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo tồn giống gà quý này”.
Là cơ sở đã áp dụng phương pháp thụ tinh nhân tạo từ cuối năm 2015, ông Nguyễn Đăng Chung, Giám đốc hợp tác xã và Chủ nhiệm Câu lạc bộ gà Hồ, Thuận Thành, Bắc Ninh vui vẻ cho biết, kết quả của phương pháp thụ tinh nhân tạo đối với giống gà Hồ rất khả quan với tỷ lệ thành công là 85-90%, cao gần gấp đôi so với thụ tinh trực tiếp là 50-60%. Bên cạnh đó, tỷ lệ gà con loại 1/ số trứng ấp của gà mái được thụ tinh nhân tạo đạt 78% cao hơn 11% so với thụ tinh bằng phương pháp giao phối trực tiếp.
Nguyên nhân được ThS Hằng lý giải là do gà mái có thân hình to, chậm chạp dẫn đến khả năng đạp mái kém, ngoài ra gà trống có khối lượng lớn nên khi đạp mái con trống thường làm cho con mái bị thương dẫn đến con mái thường không chịu con trống.
Cần tuyên truyền rộng rãi cho bà con
Mặc dù phương pháp thụ tinh nhân tạo cho kết quả tốt, nhưng ông Chung cho biết, hiện HTX vẫn đang sử dụng kết hợp cả hai phương pháp thụ tinh là giao phối trực tiếp và thụ tinh nhân tạo, bởi theo ông, hiện quy mô các hộ nuôi vẫn còn nhỏ (từ vài chục đến hơn 100 con), nên hạn chế của phương pháp thụ tinh nhân tạo cần số lượng con mái thuần nhiều hơn con trống. Tuy nhiên để giữ con trống khỏe, đẹp đảm bảo chất lượng tinh thì các hộ vẫn sử dụng phương pháp thụ tinh nhân tạo.
Thụ tinh nhân tạo để bảo tồn giống gà Hồ
Gà trống có vóc dáng to khỏe, dũng mãnh
Hiện các hộ nuôi trong HTX gà Hồ vẫn thường lấy tinh xong thụ luôn nên chỉ thực hiện trong vòng 30 phút để đảm bảo chất lượng tinh dịch. Để áp dụng phương pháp này một cách rộng rãi, ông Chung khuyến cáo cần tuyên truyền sâu rộng hơn bởi nhiều người vẫn cho rằng việc thụ tinh nhân tạo sẽ làm gà nhanh hỏng, mặc dù HTX có giải thích rằng phương pháp này không ảnh hưởng tới chất lượng gà. Chính vì thế, phương pháp này mới chỉ áp dụng tại HTX và Câu lạc bộ gà Hồ.
Phương pháp thụ tinh nhân tạo giống gà Hồ không chỉ đảm bảo độ đồng đều, các đặc điểm đặc trưng của giống, sinh trưởng tốt mà còn có tỷ lệ mắc bệnh thấp hơn so với gà Hồ được sinh ra từ giao phối tự nhiên nên cần được tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện công nghệ để chóng chuyển giao cho các hợp tác xã và hộ nông dân chăn nuôi và bảo tồn, phát triển gà Hồ bền vững.

DTK Biotech-Vet - Thụ tinh nhân tạo để bảo tồn giống gà Hồ

Tỷ lệ thụ tinh cao gần gấp đôi so với phương pháp thụ tinh trực tiếp, khắc phục được những hạn chế của gà Hồ như sinh sản kém, độ thuần chủng chưa cao… phương pháp thụ tinh nhân tạo giống gà Hồ đã góp phần vào việc bảo tồn giống gà quý tiến vua này.
Tỷ lệ thụ tinh cao gần gấp đôi
Gà Hồ là giống gà xưa dùng để tiến vua, được phát hiện và nuôi tại thôn Lạc Thổ, thị trấn Hồ, huyện Thuận Thành, Bắc Ninh, với ‘tuổi đời’ trên 600 năm, không chỉ cho chất lượng thịt thơm ngon mà còn có vóc dáng to khỏe, đẹp, cân đối, dũng mãnh.
Tuy nhiên, gà Hồ có những điểm hạn chế như: Đẻ thưa, đẻ ít trứng, ấp và nuôi con vụng hơn các giống gà ri, gà kiến, gà pha, đặc biệt vào mùa hè và mùa đông, tỷ lệ nở con rất thấp do không phù hợp.
Mặt khác, cũng giống như nhiều giống gà bản địa khác, gà Hồ chịu sự thay đổi liên tục và khắc nghiệt của thiên nhiên và từng có gian đoạn bị con người lãng quên do áp lực của cơ chế thị trường như chạy theo năng suất cao, tập trung cho giống ngoại nhập, bỏ bê giống địa phương… làm cho giống gà Hồ bị giảm số lượng đáng kể và bị lai tạp nhiều.
Xuất phát từ thực tế đó, thạc sỹ Đào Lệ Hằng, Cục Chăn nuôi, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã tiến hành thực hiện đề tài “Nghiên cứu ứng dụng công nghệ thụ tinh nhân tạo và bảo tồn giống gà Hồ ở thôn Lạc Thổ, thị trấn Hồ, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh” nhằm đánh giá thực trạng chăn nuôi, bảo tồn giống gà Hồ; đánh giá chất lượng tinh dịch gà Hồ; xác định hiệu quả của phương pháp thụ tinh nhân tạo cho gà Hồ so với thụ tinh trực tiếp thông thường…
Thụ tinh nhân tạo để bảo tồn giống gà Hồ
Ông Nguyễn Đăng Chung kiểm tra trứng mới đẻ trong lô gà của gia đình mình
Theo chị Hằng, trong 20 đề tài nghiên cứu về gà Hồ thì 2/3 số đề tài mới chỉ tập trung nghiên cứu về các đặc điểm cơ bản mà chưa có bất cứ đề tài nào nghiên cứu về phương pháp thụ tinh nhân tạo giống gà này.
TS Võ Văn Sự – nguyên Trưởng bộ môn Động vật quý hiếm và đa dạng sinh học, Viện Chăn nuôi quốc gia, cho biết, phương pháp thụ tinh nhân tạo trong vật nuôi không phải là phương pháp mới, nhưng với giống gà có ngoại hình lớn như gà Hồ, việc phối giống giữa con trống và con mái khó hơn các giống gà khác, nên phương pháp này có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo tồn giống gà quý này”.
Là cơ sở đã áp dụng phương pháp thụ tinh nhân tạo từ cuối năm 2015, ông Nguyễn Đăng Chung, Giám đốc hợp tác xã và Chủ nhiệm Câu lạc bộ gà Hồ, Thuận Thành, Bắc Ninh vui vẻ cho biết, kết quả của phương pháp thụ tinh nhân tạo đối với giống gà Hồ rất khả quan với tỷ lệ thành công là 85-90%, cao gần gấp đôi so với thụ tinh trực tiếp là 50-60%. Bên cạnh đó, tỷ lệ gà con loại 1/ số trứng ấp của gà mái được thụ tinh nhân tạo đạt 78% cao hơn 11% so với thụ tinh bằng phương pháp giao phối trực tiếp.
Nguyên nhân được ThS Hằng lý giải là do gà mái có thân hình to, chậm chạp dẫn đến khả năng đạp mái kém, ngoài ra gà trống có khối lượng lớn nên khi đạp mái con trống thường làm cho con mái bị thương dẫn đến con mái thường không chịu con trống.
Cần tuyên truyền rộng rãi cho bà con
Mặc dù phương pháp thụ tinh nhân tạo cho kết quả tốt, nhưng ông Chung cho biết, hiện HTX vẫn đang sử dụng kết hợp cả hai phương pháp thụ tinh là giao phối trực tiếp và thụ tinh nhân tạo, bởi theo ông, hiện quy mô các hộ nuôi vẫn còn nhỏ (từ vài chục đến hơn 100 con), nên hạn chế của phương pháp thụ tinh nhân tạo cần số lượng con mái thuần nhiều hơn con trống. Tuy nhiên để giữ con trống khỏe, đẹp đảm bảo chất lượng tinh thì các hộ vẫn sử dụng phương pháp thụ tinh nhân tạo.
Thụ tinh nhân tạo để bảo tồn giống gà Hồ
Gà trống có vóc dáng to khỏe, dũng mãnh
Hiện các hộ nuôi trong HTX gà Hồ vẫn thường lấy tinh xong thụ luôn nên chỉ thực hiện trong vòng 30 phút để đảm bảo chất lượng tinh dịch. Để áp dụng phương pháp này một cách rộng rãi, ông Chung khuyến cáo cần tuyên truyền sâu rộng hơn bởi nhiều người vẫn cho rằng việc thụ tinh nhân tạo sẽ làm gà nhanh hỏng, mặc dù HTX có giải thích rằng phương pháp này không ảnh hưởng tới chất lượng gà. Chính vì thế, phương pháp này mới chỉ áp dụng tại HTX và Câu lạc bộ gà Hồ.
Phương pháp thụ tinh nhân tạo giống gà Hồ không chỉ đảm bảo độ đồng đều, các đặc điểm đặc trưng của giống, sinh trưởng tốt mà còn có tỷ lệ mắc bệnh thấp hơn so với gà Hồ được sinh ra từ giao phối tự nhiên nên cần được tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện công nghệ để chóng chuyển giao cho các hợp tác xã và hộ nông dân chăn nuôi và bảo tồn, phát triển gà Hồ bền vững.
Đọc thêm
Mô hình chăn nuôi gà ta thả vườn đang phát triển mạnh ở nhiều địa phương trong cả nước bước đầu mô hình đã mang lại hiệu quả cao cho nhiều hộ chăn nuôi.
Chăn nuôi gà ta thả vườn không khó nhưng để nuôi gà ta thành công mang lại hiệu quả kinh tế tối ưu đòi hỏi bà con chăn nuôi phải tìm hiểu học hỏi kỹ thuật, thường xuyên tham khảo báo đài, kinh nghiệm người đi trước áp dụng vào thực tế chăn nuôi hộ gia đình.
Để góp phần giúp các bạn chăn nuôi gà ta thả vườn đạt được hiệu quả, chúng tôi xin giới thiệu qua một số bước quan trọng trong kỹ thuật nuôi gà ta thả vườn mời các bạn tham khảo.
1. Khâu chuẩn bị điều kiện nuôi
  • Trước khi đem gà ta về nuôi cần chuẩn bị đầy đủ mọi điều kiện vật chất kỹ thuật như:
  • Chuồng nuôi, rèm che, cót quây, chụp sưởi ấm, máng ăn, máng uống. Tất cả phải được khử trùng trước khi sử dụng từ 5-7 ngày.
  • Chuẩn bị đầy đủ thức ăn, thuốc thú y cần thiết cho đàn gà.
  • Chuồng nuôi đảm bảo thoáng mát mùa hè, kín ấm vào mùa đông.
  • Nền chuồng thiết kế đúng kỹ thuật, cao ráo, thoát nước.
  • Chất độn chuồng: Trấu, dăm bào sạch, dày 5cm -10 cm được phun sát trùng khi sử dụng.
  • Đảm bảo lưu thông không khí trong chuồng nuôi.
Chăn nuôi gà ta thả vườn không khó.
Chăn nuôi gà ta thả vườn không khó.
Chuẩn bị chuồng trại
Chọn khu đất cao ráo, thoáng mát để cất chuồng gà. Nên cất chuồng theo hướng Đông hoặc Đông Nam để hứng được nắng sáng và tránh được nắng chiều.
  • Nếu nuôi nhốt hoàn toàn, chú ý mật độ nuôi thích hợp (8 con/m2 nếu nuôi gà thịt trên sàn, 10 con/m2 nếu nuôi gà thịt trên nền).
  • Nếu nuôi gà thả vườn,chuồng là nơi để tránh mưa nắng và ngủ đêm, mật độ vườn thả gà đủ là ít nhất 1 con/m2.
  • Mặt trước cửa chuồng hướng về phía đông nam. Sàn chuồng làm bằng lưới hoặc tre thưa cách mặt đất 0,5 m để thông thoáng, khô ráo, dễ dọn vệ sinh.
  • Rào chắn xung quanh vườn bằng lưới B40, lưới nilon, tre gỗ... tùy điều kiện nuôi của từng hộ. Ban ngày khô ráo thả gà ra sân, vườn chơi, buổi tối cho gà về chuồng.
Chuẩn bị lồng úm gà con
  • Kích thước 2m x 1m cao chân 0,5m đủ nuôi cho 100 con gà.
  • Sưởi ấm cho gà bằng đèn (hai bóng 75 W dùng cho 100 con gà).
Chuẩn bị máng ăn
  • Khi gà còn nhỏ (1-3 ngày tuổi) rải cám tấm trên giấy lót trong lồng úm cho gà ăn.
  • Khi gà 4-14 ngày tuổi cho gà ăn bằng máng ăn cho gà con.
  • Trên 15 ngày cho gà ăn máng treo.
Chuẩn bị máng uống
  • Đặt hoặc treo xen kẻ các máng uống với máng ăn trong vườn. Thay nước sạch cho gà 2-3 lần/ngày.
Chuẩn bị bể tắm cát, máng cát sỏi cho gà
  • Gà rất thích tắm cát.
  • Đối gà nuôi chăn thả phải xây bể chứa cát, tro bếp và điểm sinh hoạt cho gà tắm. Kích thước bể dài 2m, rộng 1m, cao 0,3m cho 40 gà.
  • Đặt một số máng cát, sỏi hoặc đá nhỏ xung quanh nơi chăn thả để gà ăn, giúp gà tiêu hóa thức ăn tốt hơn.
Chuần bị dàn đậu cho gà
  • Gà có tập tính thích ngủ trên cao vào ban đêm để tránh kẻ thù và giữ ẩm cho đôi chân, tránh nhiễm bệnh. Do đó nên tạo một số dàn đậu cho gà ngủ trong chuồng.
  • Dàn đậu làm bằng tre, gỗ (không nên làm bằng cây tròn vì trơn gà khó đậu). Dàn cách nền chuồng khoảng 0,5m, cách nhau 0,3-0,4m để gà khỏi đụng vào nhau, mổ nhau và ỉa phân lên nhau.
  • Làm ổ đẻ cho gà để nơi tối. Một ổ đẻ cho 5-10 con gà mái.
  • Vườn chăn thả: 1m2 /1 gà.
Nếu nuôi lấy thịt thì chọn giống gà Tàu vàng, gà Đông Tảo...
Nếu nuôi lấy thịt thì chọn giống gà Tàu vàng, gà Đông Tảo...
2. Chọn giống gà ta thả vườn
  • Nuôi gà ta theo hướng lấy thịt: Chọn giống gà Tàu vàng, gà Đông Tảo, gà Nòi, gà Tam Hoàng, gà Lương Phượng, gà gà Hồ, gà ta lai...
  • Nuôi gà ta theo hướng lấy trứng thương phẩm: Chọn những giống gà đẻ nhiều như gà Tàu Vàng, gà Tam Hoàng, gà BT1, gà Ri,....
* Chọn gà con giống:
  • Chọn gà con càng đồng đều về trọng lượng càng tốt.
  • Chọn những con nhanh, mắt sáng, lông bông, bụng gọn, chân mập.
  • Tránh chọn những con gà khô chân, vẹo mỏ, khoèo chân, hở rốn, xệ bụng, lỗ huyệt bết lông, cánh xệ, có vòng thâm đen quanh rốn.
* Chọn gà đẻ giống:
  • Chọn con có trọng lượng không quá thấp, không quá mập, lúc 20 tuần tuổi đạt 1,6-1,7 kg thì rất tốt.
  • Đầu nhỏ, mỏ ngắn đều, mồng tích to, đỏ tươi.
  • Mắt sáng, lông mượt xếp sát vào thân, bụng phát triển mềm mại.
  • Hậu môn rộng màu hồng tươi và ẩm ướt.
  • Khoảng cách giữa xương chậu và xương ức rộng độ 3-4 ngón tay, giữa hai xương chậu rộng gần 2-3 ngón tay xếp lại.
3. Kỹ thuật chăm sóc nuôi dưỡng
  • Nên vận chuyển gà ta con vào lúc sáng sớm hoặc chiều mát, tránh những ngày mưa bão hay áp thấp nhiệt đới. Đưa gà vào chuồng úm, cho gà uống nước pha Electrotyle hoặc Vitamine C, chỉ cho gà ăn tấm nấu hoặc tấm, bắp nhuyễn ngâm sau khi gà nở ít nhất là 12 giờ, tiếp tục cho ăn uống như thế đến 2 ngày. Sang ngày thứ 3 thì pha với lượng tăng dần thức ăn công nghiệp hoặc tự trộn phụ phế phẩm.
  • Trộn thuốc cầu trùng vào trong thức ăn cho gà từ ngày thứ 7 trở đi, dùng Rigecoccin 1 gr/10 kg thức ăn (hoặc dùng Sulfamid trộn tỷ lệ 5%).Thay giấy lót đáy chuồng và dọn phân mỗi ngày sạch sẽ.
  • Rửa máng ăn, máng uống sạch sẽ, quan sát tình trạng ăn uống đi đứng của gà, nếu thấy con nào buồn bã, ủ rủ cần cách ly ngay để theo dõi.
  • Dùng bóng đèn tròn 75W úm cho 1m2 chuồng có che chắn để giữ nhiệt, tùy theo thời tiết mà tăng giảm lượng nhiệt bằng cách nâng hoặc hạ độ cao của bóng đèn.
  • Quan sát thấy nếu gà nằm tụ quanh bóng đèn là gà bị lạnh, tản xa bóng đèn là nóng, nằm tụ ở góc chuồng là bị gió lùa và gà đi lại ăn uống tự do là nhiệt độ thích hợp.Thắp sáng suốt đêm cho gà trong giai đoạn úm để phòng chuột, mèo và để gà ăn nhiều thức ăn hơn.
  • Thường xuyên quan sát biểu hiện của đàn gà để kịp xử lý những bất thường xảy ra. Khi thời tiết thay đổi nên cho gà uống nước pha Electrolyte hoặc Vitamine C.
  • Do tập tính của gà ta thường uống nước cùng lúc với ăn, nên đặt máng ăn và máng uống cạnh nhau để gà được uống nước đầy đủ mà không uống nước dơ bẩn trong vườn.
  • Nếu là gà nuôi thịt thì không cần cắt mỏ. Đối với gà đẻ để giảm hiện tượng cắn mổ nhau thì nên cắt mỏ (chỉ cắt phần sừng của mỏ) vào tuần 6-7.
Chú ý: Không nuôi nhiều cở gà trong 1 chuồng, trước khi nuôi đợt mới cần phải sát trùng toàn bộ chuồng trại, dụng cụ.
4. Thức ăn cho gà ta
  • Gà ta thả vườn là một trong số con vật nhạy cảm, nên tuyệt đối không cho gà ăn thức ăn bị ôi mốc, nhiễm nấm, thối rửa.
  • Có thể sử dụng thức ăn công nghiệp hoặc tận dụng các phụ phế phẩm công nông nghiệp, sao cho đảm bảo các thành phần: Năng lượng, đạm, khoáng và vitamine. Khống chế lượng thức ăn và đảm bảo chất lượng thức ăn đối với gà hậu bị để gà không bị mập mỡ làm giảm sản lượng trứng.
  • Đối với gà ta thả vườn thì vấn đề khoáng và vitamine không quan trọng bằng gà ta nuôi nhốt, vì chúng sẽ tự tìm kiếm theo nhu cầu của cơ thể.
  • Sau giai đoạn úm có thể cho gà ăn thêm rau xanh. Nên nuôi thêm trùn đất và giòi là nguồn cung cấp đạm dồi dào cho gà.
  • Ngày đầu tiên chỉ cho gà uống nước, ăn tấm hoặc bắp nhuyễn. Thức ăn mỗi lần rải một ít để thức ăn luôn thơm ngon kích thích tính thèm ăn của gà.
  • Những ngày kế tiếp tập dần cho gà ăn sang thức ăn công nghiệp. Cho gà ăn nhiều bữa trong ngày, ăn tự do.
  • Nếu sử dụng máng treo để cho gà phải thường xuyên theo dõi điều chỉnh độ cao của máng để gà ăn một cách thoải mái và tránh rơi vãi thức ăn.
  • Nước uống phải sạch và đầy đủ cho gà uống, gà sống lâu hơn nếu thiếu thức ăn hơn thiếu nước.
Chuồng và vườn thả phải luôn khô ráo, sạch sẽ, không để ao tù nước đọng trong khu vườn thả.
Chuồng và vườn thả phải luôn khô ráo, sạch sẽ, không để ao tù nước đọng trong khu vườn thả.
5. Vệ sinh phòng bệnh
  • Vệ sinh phòng bệnh là vấn đề là công tác chủ yếu, đảm bảo "Ăn sạch, ở sạch, uống sạch". Nên chuồng và vườn thả phải luôn khô ráo, sạch sẽ, không để ao tù nước đọng trong khu vườn thả.
  • Áp dụng nghiêm ngặt lịch phòng vaccine tuỳ theo từng địa phương. Ngoài ra, dùng kháng sinh phòng một số bệnh do vi trùng, đặc biệt đối với gà thả nền thì cần phải phòng bệnh cầu trùng khi cho xuống nền và thả vườn.
Những nguyên nhân gây bệnh
Gà ta còn non, gà bị yếu, giống gà cảm với bệnh.
Môi trường sống:
  • Thức ăn không cân bằng dinh dưỡng dễ làm con vật mắc bệnh.
  • Nước uống không sạch.
  • Không khí, nhiệt độ không thích hợp....
Sức đề kháng của cơ thể gà
  • Mỗi con vật đều có một hàng rào cơ học để tự bảo vệ cơ thể.
  • Sức đề kháng do con người tạo bằng cách tiêm các loại vaccin phòng bệnh (sức đề kháng chủ động).
Các biện pháp vệ sinh phòng bệnh
* Vệ sinh phòng bệnh:
  • Thức ăn tốt.
  • Nước sạch.
  • Con giống có khả năng chống đỡ với bệnh tật cao.
  • Chuồng nuôi sạch.
  • Quanh chuồng nuôi phải phát quang.
  • Thực hiện tốt qui trình thú y về vệ sinh phòng bệnh.
* Phòng bằng Vaccine:
  • Lưu ý khi dùng vaccine phòng bệnh:
  • Chỉ dùng khi đàn gia cầm khỏe.
  • Lắc kỹ vaccine trước và trong khi dùng.
  • Vaccine mở ra chỉ sử dụng trong ngày, dư phải hủy bỏ.
  • Dùng vitamin để tăng bồi dưỡng cho gà.

DTK Biotech-Vet - Kỹ thuật nuôi gà ta thả vườn đạt hiệu quả cao

Mô hình chăn nuôi gà ta thả vườn đang phát triển mạnh ở nhiều địa phương trong cả nước bước đầu mô hình đã mang lại hiệu quả cao cho nhiều hộ chăn nuôi.
Chăn nuôi gà ta thả vườn không khó nhưng để nuôi gà ta thành công mang lại hiệu quả kinh tế tối ưu đòi hỏi bà con chăn nuôi phải tìm hiểu học hỏi kỹ thuật, thường xuyên tham khảo báo đài, kinh nghiệm người đi trước áp dụng vào thực tế chăn nuôi hộ gia đình.
Để góp phần giúp các bạn chăn nuôi gà ta thả vườn đạt được hiệu quả, chúng tôi xin giới thiệu qua một số bước quan trọng trong kỹ thuật nuôi gà ta thả vườn mời các bạn tham khảo.
1. Khâu chuẩn bị điều kiện nuôi
  • Trước khi đem gà ta về nuôi cần chuẩn bị đầy đủ mọi điều kiện vật chất kỹ thuật như:
  • Chuồng nuôi, rèm che, cót quây, chụp sưởi ấm, máng ăn, máng uống. Tất cả phải được khử trùng trước khi sử dụng từ 5-7 ngày.
  • Chuẩn bị đầy đủ thức ăn, thuốc thú y cần thiết cho đàn gà.
  • Chuồng nuôi đảm bảo thoáng mát mùa hè, kín ấm vào mùa đông.
  • Nền chuồng thiết kế đúng kỹ thuật, cao ráo, thoát nước.
  • Chất độn chuồng: Trấu, dăm bào sạch, dày 5cm -10 cm được phun sát trùng khi sử dụng.
  • Đảm bảo lưu thông không khí trong chuồng nuôi.
Chăn nuôi gà ta thả vườn không khó.
Chăn nuôi gà ta thả vườn không khó.
Chuẩn bị chuồng trại
Chọn khu đất cao ráo, thoáng mát để cất chuồng gà. Nên cất chuồng theo hướng Đông hoặc Đông Nam để hứng được nắng sáng và tránh được nắng chiều.
  • Nếu nuôi nhốt hoàn toàn, chú ý mật độ nuôi thích hợp (8 con/m2 nếu nuôi gà thịt trên sàn, 10 con/m2 nếu nuôi gà thịt trên nền).
  • Nếu nuôi gà thả vườn,chuồng là nơi để tránh mưa nắng và ngủ đêm, mật độ vườn thả gà đủ là ít nhất 1 con/m2.
  • Mặt trước cửa chuồng hướng về phía đông nam. Sàn chuồng làm bằng lưới hoặc tre thưa cách mặt đất 0,5 m để thông thoáng, khô ráo, dễ dọn vệ sinh.
  • Rào chắn xung quanh vườn bằng lưới B40, lưới nilon, tre gỗ... tùy điều kiện nuôi của từng hộ. Ban ngày khô ráo thả gà ra sân, vườn chơi, buổi tối cho gà về chuồng.
Chuẩn bị lồng úm gà con
  • Kích thước 2m x 1m cao chân 0,5m đủ nuôi cho 100 con gà.
  • Sưởi ấm cho gà bằng đèn (hai bóng 75 W dùng cho 100 con gà).
Chuẩn bị máng ăn
  • Khi gà còn nhỏ (1-3 ngày tuổi) rải cám tấm trên giấy lót trong lồng úm cho gà ăn.
  • Khi gà 4-14 ngày tuổi cho gà ăn bằng máng ăn cho gà con.
  • Trên 15 ngày cho gà ăn máng treo.
Chuẩn bị máng uống
  • Đặt hoặc treo xen kẻ các máng uống với máng ăn trong vườn. Thay nước sạch cho gà 2-3 lần/ngày.
Chuẩn bị bể tắm cát, máng cát sỏi cho gà
  • Gà rất thích tắm cát.
  • Đối gà nuôi chăn thả phải xây bể chứa cát, tro bếp và điểm sinh hoạt cho gà tắm. Kích thước bể dài 2m, rộng 1m, cao 0,3m cho 40 gà.
  • Đặt một số máng cát, sỏi hoặc đá nhỏ xung quanh nơi chăn thả để gà ăn, giúp gà tiêu hóa thức ăn tốt hơn.
Chuần bị dàn đậu cho gà
  • Gà có tập tính thích ngủ trên cao vào ban đêm để tránh kẻ thù và giữ ẩm cho đôi chân, tránh nhiễm bệnh. Do đó nên tạo một số dàn đậu cho gà ngủ trong chuồng.
  • Dàn đậu làm bằng tre, gỗ (không nên làm bằng cây tròn vì trơn gà khó đậu). Dàn cách nền chuồng khoảng 0,5m, cách nhau 0,3-0,4m để gà khỏi đụng vào nhau, mổ nhau và ỉa phân lên nhau.
  • Làm ổ đẻ cho gà để nơi tối. Một ổ đẻ cho 5-10 con gà mái.
  • Vườn chăn thả: 1m2 /1 gà.
Nếu nuôi lấy thịt thì chọn giống gà Tàu vàng, gà Đông Tảo...
Nếu nuôi lấy thịt thì chọn giống gà Tàu vàng, gà Đông Tảo...
2. Chọn giống gà ta thả vườn
  • Nuôi gà ta theo hướng lấy thịt: Chọn giống gà Tàu vàng, gà Đông Tảo, gà Nòi, gà Tam Hoàng, gà Lương Phượng, gà gà Hồ, gà ta lai...
  • Nuôi gà ta theo hướng lấy trứng thương phẩm: Chọn những giống gà đẻ nhiều như gà Tàu Vàng, gà Tam Hoàng, gà BT1, gà Ri,....
* Chọn gà con giống:
  • Chọn gà con càng đồng đều về trọng lượng càng tốt.
  • Chọn những con nhanh, mắt sáng, lông bông, bụng gọn, chân mập.
  • Tránh chọn những con gà khô chân, vẹo mỏ, khoèo chân, hở rốn, xệ bụng, lỗ huyệt bết lông, cánh xệ, có vòng thâm đen quanh rốn.
* Chọn gà đẻ giống:
  • Chọn con có trọng lượng không quá thấp, không quá mập, lúc 20 tuần tuổi đạt 1,6-1,7 kg thì rất tốt.
  • Đầu nhỏ, mỏ ngắn đều, mồng tích to, đỏ tươi.
  • Mắt sáng, lông mượt xếp sát vào thân, bụng phát triển mềm mại.
  • Hậu môn rộng màu hồng tươi và ẩm ướt.
  • Khoảng cách giữa xương chậu và xương ức rộng độ 3-4 ngón tay, giữa hai xương chậu rộng gần 2-3 ngón tay xếp lại.
3. Kỹ thuật chăm sóc nuôi dưỡng
  • Nên vận chuyển gà ta con vào lúc sáng sớm hoặc chiều mát, tránh những ngày mưa bão hay áp thấp nhiệt đới. Đưa gà vào chuồng úm, cho gà uống nước pha Electrotyle hoặc Vitamine C, chỉ cho gà ăn tấm nấu hoặc tấm, bắp nhuyễn ngâm sau khi gà nở ít nhất là 12 giờ, tiếp tục cho ăn uống như thế đến 2 ngày. Sang ngày thứ 3 thì pha với lượng tăng dần thức ăn công nghiệp hoặc tự trộn phụ phế phẩm.
  • Trộn thuốc cầu trùng vào trong thức ăn cho gà từ ngày thứ 7 trở đi, dùng Rigecoccin 1 gr/10 kg thức ăn (hoặc dùng Sulfamid trộn tỷ lệ 5%).Thay giấy lót đáy chuồng và dọn phân mỗi ngày sạch sẽ.
  • Rửa máng ăn, máng uống sạch sẽ, quan sát tình trạng ăn uống đi đứng của gà, nếu thấy con nào buồn bã, ủ rủ cần cách ly ngay để theo dõi.
  • Dùng bóng đèn tròn 75W úm cho 1m2 chuồng có che chắn để giữ nhiệt, tùy theo thời tiết mà tăng giảm lượng nhiệt bằng cách nâng hoặc hạ độ cao của bóng đèn.
  • Quan sát thấy nếu gà nằm tụ quanh bóng đèn là gà bị lạnh, tản xa bóng đèn là nóng, nằm tụ ở góc chuồng là bị gió lùa và gà đi lại ăn uống tự do là nhiệt độ thích hợp.Thắp sáng suốt đêm cho gà trong giai đoạn úm để phòng chuột, mèo và để gà ăn nhiều thức ăn hơn.
  • Thường xuyên quan sát biểu hiện của đàn gà để kịp xử lý những bất thường xảy ra. Khi thời tiết thay đổi nên cho gà uống nước pha Electrolyte hoặc Vitamine C.
  • Do tập tính của gà ta thường uống nước cùng lúc với ăn, nên đặt máng ăn và máng uống cạnh nhau để gà được uống nước đầy đủ mà không uống nước dơ bẩn trong vườn.
  • Nếu là gà nuôi thịt thì không cần cắt mỏ. Đối với gà đẻ để giảm hiện tượng cắn mổ nhau thì nên cắt mỏ (chỉ cắt phần sừng của mỏ) vào tuần 6-7.
Chú ý: Không nuôi nhiều cở gà trong 1 chuồng, trước khi nuôi đợt mới cần phải sát trùng toàn bộ chuồng trại, dụng cụ.
4. Thức ăn cho gà ta
  • Gà ta thả vườn là một trong số con vật nhạy cảm, nên tuyệt đối không cho gà ăn thức ăn bị ôi mốc, nhiễm nấm, thối rửa.
  • Có thể sử dụng thức ăn công nghiệp hoặc tận dụng các phụ phế phẩm công nông nghiệp, sao cho đảm bảo các thành phần: Năng lượng, đạm, khoáng và vitamine. Khống chế lượng thức ăn và đảm bảo chất lượng thức ăn đối với gà hậu bị để gà không bị mập mỡ làm giảm sản lượng trứng.
  • Đối với gà ta thả vườn thì vấn đề khoáng và vitamine không quan trọng bằng gà ta nuôi nhốt, vì chúng sẽ tự tìm kiếm theo nhu cầu của cơ thể.
  • Sau giai đoạn úm có thể cho gà ăn thêm rau xanh. Nên nuôi thêm trùn đất và giòi là nguồn cung cấp đạm dồi dào cho gà.
  • Ngày đầu tiên chỉ cho gà uống nước, ăn tấm hoặc bắp nhuyễn. Thức ăn mỗi lần rải một ít để thức ăn luôn thơm ngon kích thích tính thèm ăn của gà.
  • Những ngày kế tiếp tập dần cho gà ăn sang thức ăn công nghiệp. Cho gà ăn nhiều bữa trong ngày, ăn tự do.
  • Nếu sử dụng máng treo để cho gà phải thường xuyên theo dõi điều chỉnh độ cao của máng để gà ăn một cách thoải mái và tránh rơi vãi thức ăn.
  • Nước uống phải sạch và đầy đủ cho gà uống, gà sống lâu hơn nếu thiếu thức ăn hơn thiếu nước.
Chuồng và vườn thả phải luôn khô ráo, sạch sẽ, không để ao tù nước đọng trong khu vườn thả.
Chuồng và vườn thả phải luôn khô ráo, sạch sẽ, không để ao tù nước đọng trong khu vườn thả.
5. Vệ sinh phòng bệnh
  • Vệ sinh phòng bệnh là vấn đề là công tác chủ yếu, đảm bảo "Ăn sạch, ở sạch, uống sạch". Nên chuồng và vườn thả phải luôn khô ráo, sạch sẽ, không để ao tù nước đọng trong khu vườn thả.
  • Áp dụng nghiêm ngặt lịch phòng vaccine tuỳ theo từng địa phương. Ngoài ra, dùng kháng sinh phòng một số bệnh do vi trùng, đặc biệt đối với gà thả nền thì cần phải phòng bệnh cầu trùng khi cho xuống nền và thả vườn.
Những nguyên nhân gây bệnh
Gà ta còn non, gà bị yếu, giống gà cảm với bệnh.
Môi trường sống:
  • Thức ăn không cân bằng dinh dưỡng dễ làm con vật mắc bệnh.
  • Nước uống không sạch.
  • Không khí, nhiệt độ không thích hợp....
Sức đề kháng của cơ thể gà
  • Mỗi con vật đều có một hàng rào cơ học để tự bảo vệ cơ thể.
  • Sức đề kháng do con người tạo bằng cách tiêm các loại vaccin phòng bệnh (sức đề kháng chủ động).
Các biện pháp vệ sinh phòng bệnh
* Vệ sinh phòng bệnh:
  • Thức ăn tốt.
  • Nước sạch.
  • Con giống có khả năng chống đỡ với bệnh tật cao.
  • Chuồng nuôi sạch.
  • Quanh chuồng nuôi phải phát quang.
  • Thực hiện tốt qui trình thú y về vệ sinh phòng bệnh.
* Phòng bằng Vaccine:
  • Lưu ý khi dùng vaccine phòng bệnh:
  • Chỉ dùng khi đàn gia cầm khỏe.
  • Lắc kỹ vaccine trước và trong khi dùng.
  • Vaccine mở ra chỉ sử dụng trong ngày, dư phải hủy bỏ.
  • Dùng vitamin để tăng bồi dưỡng cho gà.
Đọc thêm
Lượng nước đã được sử dụng hoàn toàn khác với lượng nước đã được gia cầm hấp thụ. Những đánh giá, hiểu biết về sự khác biệt quan trọng này chính là yếu tố then chốt trong việc quản lý tốt hệ thống cấp nước trong chăn nuôi gia cầm.
WU = WC + WS
WU = WC + WS
Thật không may là hầu hết các chủ trang trại, công nhân, người phụ trách kỹ thuật hay kể cả các nhà sản xuất chăn nuôi gia cầm công nghiệp cũng thường không đánh giá cao hay không nhận ra sự khác biệt dù nhỏ nhưng quan trọng này, và do đó làm tổn hại đến kết quả sản xuất, chăn nuôi.
Lượng nước đã sử dụng = lượng nước đã được gia cầm hấp thu + lượng nước bị đổ ra ngoài (WU = WC + WS).
Lượng nước đã sử dụng (WU) chính là tổng lượng nước đổ vào hệ thống cấp nước như máng uống hay đường ống của cơ sở chăn nuôi gia cầm đó. Nước trong hệ thống cấp nước có thể rơi vào 2 trường hợp. Một là sau khi gia cầm uống, nước đó đi vào cơ thể gia cầm và được gọi là lượng nước đã được hấp thu (WC). Đồng thời với đó là một lượng nước nhất định bị đổ ra ngoài, không được tiêu thụ bởi gia cầm (WS)
Kích thước và cấu tạo của mỏ gia cầm giới hạn khả năng hấp thu nước.
Khi gia cầm mổ vào núm uống (như trong video bên dưới) nước trong đường ống bắt đầu chảy vào miệng chúng. Nếu thể tích lượng nước đi ra khỏi đường ống nhỏ hơn hoặc bằng thể tích miệng gia cầm thì nước được giữ lại trong miệng chúng và không bị tràn ra ngoài và ngược lại sẽ dẫn đến việc nước tràn ra ngoài.
Vì vậy, khi người chăn nuôi gia cầm kiểm tra lượng nước đi qua đồng hồ nước tức là lượng nước sử dụng cho cả cơ sở chăn nuôi đó – bao gồm cả lượng nước bị tràn ra ngoài.
Thiếu hiểu biết dẫn đến nhiều sai lầm nghiêm trọng trong chăn nuôi.
Các nhà sản xuất, chăn nuôi gia cầm biết rằng lượng nước tiêu thụ càng nhiều thì lượng thức ăn ăn vào càng tăng và gia cầm phát triển càng nhanh.
Nên nếu họ đo bằng đồng hồ sau đó tăng áp lực nước trong đường ống để mong tăng lượng nước hấp thu nhằm tăng nhanh trọng lượng gia cầm hơn thì vấn đề là: trừ khi mỏ gia cầm đã phát triển đáng kể về kích thước và có thể giữ lại tất cả lượng nước xả ra. Còn không thì người chăn nuôi gia cầm chỉ đang tăng lượng nước sử dụng chứ lượng nước mà gia cầm hấp thu thì thực tế có thể vẫn giữ nguyên.
Lượng nước đổ tràn ra ngoài càng nhiều thì tác dụng phụ càng lớn.
Mục tiêu toàn bộ nước sử dụng đều được gia cầm hấp thu 100% và không bị đổ ra ngoài là một mục tiêu phi thực tế, điều này sẽ không bao giờ xảy ra trong thực tế.
Tuy nhiên quản lý sao cho chỉ có khoảng 5% nước bị đổ ra ngoài thì sẽ tốt hơn là 15% hay 20%. Chúng ta không thể biết được tỷ lệ này thông qua đồng hồ đo nước mà chỉ có thể quan sát bằng mắt.
Người chăn nuôi gia cầm phải để ý, kiểm tra liên tục độ ẩm của lớp độn chuồng ngay phía dưới đường ống đồng thời điều chỉnh áp suất nước và chiều cao của đường ống phù hợp để hạn chế nước tràn ra ngoài.
Nước tràn ra ngoài gây ướt nền chuồng và làm tăng lượng amoniac trong chuồng nuôi. Khi gia cầm đi lại, nghỉ ngơi trên nền chuồng ẩm ướt đó sẽ làm tăng nguy cơ nhiễm bệnh, tổn thương phần ngực, viêm da cũng như nhiều nguy cơ khác trong chăn nuôi và các vấn đề liên quan đến môi trường.
Tóm tắt một số lưu ý và sai lầm thường gặp trong chăn nuôi gia cầm:
- Sai lầm: đồng hồ nước đo lượng nước tiêu thụ.
Sự thật: đồng hồ nước đo lượng nước sử dụng, bao gồm lượng nước tiêu thụ và lượng nước bị đổ ra ngoài.
- Sai lầm: tăng lượng nước sử dụng sẽ làm tăng mức tiêu thụ nước.
Sự thật: Lượng nước tiêu thụ bị hạn chế bởi kích thước mỏ. xả nhiều nước hơn thể tích mỏ có thể chứa chỉ làm tăng lượng nước bị tràn ra ngoài mà thôi.
- Sai lầm: lớp độn chuồng khô ráo có nghĩa là gia cầm cần nhiều nước hơn.
Sự thật: tích hợp của hệ thống thông gió, sưởi ấm…có thể che giấu việc nước bị tràn một cách đáng kể và giữ cho chuồng nuôi “khô ráo một cách giả tạo”.
- Sai lầm: tốc độ và áp lực dòng nước trong đường ống là một chỉ số thích hợp để đánh giá hiệu quả hấp thu nước của gia cầm.
Sự thật: tốc độ hay dòng chảy của nước trong đường ống không thể giúp dự đoán được lượng nước mà gia cầm có thể hấp thu nên nó không thể là một chỉ số quản lý hiệu quả trong chăn nuôi gia cầm.

DTK Biotech-Vet - Chăn nuôi gia cầm, đừng nhầm lẫn giữa lượng nước đã sử dụng và lượng nước tiêu thụ (Phần 1/2)

Lượng nước đã được sử dụng hoàn toàn khác với lượng nước đã được gia cầm hấp thụ. Những đánh giá, hiểu biết về sự khác biệt quan trọng này chính là yếu tố then chốt trong việc quản lý tốt hệ thống cấp nước trong chăn nuôi gia cầm.
WU = WC + WS
WU = WC + WS
Thật không may là hầu hết các chủ trang trại, công nhân, người phụ trách kỹ thuật hay kể cả các nhà sản xuất chăn nuôi gia cầm công nghiệp cũng thường không đánh giá cao hay không nhận ra sự khác biệt dù nhỏ nhưng quan trọng này, và do đó làm tổn hại đến kết quả sản xuất, chăn nuôi.
Lượng nước đã sử dụng = lượng nước đã được gia cầm hấp thu + lượng nước bị đổ ra ngoài (WU = WC + WS).
Lượng nước đã sử dụng (WU) chính là tổng lượng nước đổ vào hệ thống cấp nước như máng uống hay đường ống của cơ sở chăn nuôi gia cầm đó. Nước trong hệ thống cấp nước có thể rơi vào 2 trường hợp. Một là sau khi gia cầm uống, nước đó đi vào cơ thể gia cầm và được gọi là lượng nước đã được hấp thu (WC). Đồng thời với đó là một lượng nước nhất định bị đổ ra ngoài, không được tiêu thụ bởi gia cầm (WS)
Kích thước và cấu tạo của mỏ gia cầm giới hạn khả năng hấp thu nước.
Khi gia cầm mổ vào núm uống (như trong video bên dưới) nước trong đường ống bắt đầu chảy vào miệng chúng. Nếu thể tích lượng nước đi ra khỏi đường ống nhỏ hơn hoặc bằng thể tích miệng gia cầm thì nước được giữ lại trong miệng chúng và không bị tràn ra ngoài và ngược lại sẽ dẫn đến việc nước tràn ra ngoài.
Vì vậy, khi người chăn nuôi gia cầm kiểm tra lượng nước đi qua đồng hồ nước tức là lượng nước sử dụng cho cả cơ sở chăn nuôi đó – bao gồm cả lượng nước bị tràn ra ngoài.
Thiếu hiểu biết dẫn đến nhiều sai lầm nghiêm trọng trong chăn nuôi.
Các nhà sản xuất, chăn nuôi gia cầm biết rằng lượng nước tiêu thụ càng nhiều thì lượng thức ăn ăn vào càng tăng và gia cầm phát triển càng nhanh.
Nên nếu họ đo bằng đồng hồ sau đó tăng áp lực nước trong đường ống để mong tăng lượng nước hấp thu nhằm tăng nhanh trọng lượng gia cầm hơn thì vấn đề là: trừ khi mỏ gia cầm đã phát triển đáng kể về kích thước và có thể giữ lại tất cả lượng nước xả ra. Còn không thì người chăn nuôi gia cầm chỉ đang tăng lượng nước sử dụng chứ lượng nước mà gia cầm hấp thu thì thực tế có thể vẫn giữ nguyên.
Lượng nước đổ tràn ra ngoài càng nhiều thì tác dụng phụ càng lớn.
Mục tiêu toàn bộ nước sử dụng đều được gia cầm hấp thu 100% và không bị đổ ra ngoài là một mục tiêu phi thực tế, điều này sẽ không bao giờ xảy ra trong thực tế.
Tuy nhiên quản lý sao cho chỉ có khoảng 5% nước bị đổ ra ngoài thì sẽ tốt hơn là 15% hay 20%. Chúng ta không thể biết được tỷ lệ này thông qua đồng hồ đo nước mà chỉ có thể quan sát bằng mắt.
Người chăn nuôi gia cầm phải để ý, kiểm tra liên tục độ ẩm của lớp độn chuồng ngay phía dưới đường ống đồng thời điều chỉnh áp suất nước và chiều cao của đường ống phù hợp để hạn chế nước tràn ra ngoài.
Nước tràn ra ngoài gây ướt nền chuồng và làm tăng lượng amoniac trong chuồng nuôi. Khi gia cầm đi lại, nghỉ ngơi trên nền chuồng ẩm ướt đó sẽ làm tăng nguy cơ nhiễm bệnh, tổn thương phần ngực, viêm da cũng như nhiều nguy cơ khác trong chăn nuôi và các vấn đề liên quan đến môi trường.
Tóm tắt một số lưu ý và sai lầm thường gặp trong chăn nuôi gia cầm:
- Sai lầm: đồng hồ nước đo lượng nước tiêu thụ.
Sự thật: đồng hồ nước đo lượng nước sử dụng, bao gồm lượng nước tiêu thụ và lượng nước bị đổ ra ngoài.
- Sai lầm: tăng lượng nước sử dụng sẽ làm tăng mức tiêu thụ nước.
Sự thật: Lượng nước tiêu thụ bị hạn chế bởi kích thước mỏ. xả nhiều nước hơn thể tích mỏ có thể chứa chỉ làm tăng lượng nước bị tràn ra ngoài mà thôi.
- Sai lầm: lớp độn chuồng khô ráo có nghĩa là gia cầm cần nhiều nước hơn.
Sự thật: tích hợp của hệ thống thông gió, sưởi ấm…có thể che giấu việc nước bị tràn một cách đáng kể và giữ cho chuồng nuôi “khô ráo một cách giả tạo”.
- Sai lầm: tốc độ và áp lực dòng nước trong đường ống là một chỉ số thích hợp để đánh giá hiệu quả hấp thu nước của gia cầm.
Sự thật: tốc độ hay dòng chảy của nước trong đường ống không thể giúp dự đoán được lượng nước mà gia cầm có thể hấp thu nên nó không thể là một chỉ số quản lý hiệu quả trong chăn nuôi gia cầm.
Đọc thêm
Ngỗng là loại gia cầm dễ nuôi, hay ăn, chóng lớn, ít mắc bệnh. Ngỗng chỉ ăn cỏ, ăn rau là chính, ít dùng lương thực. Nuôi trong 4-8 tháng ngỗng đã cho thu hoạch 4-7kg.
Có nhiều giống ngỗng: ngỗng trắng, ngỗng xám vằn, loại chân thấp, chân cao... Nếu nuôi ngỗng đàn, nên chọn ngỗng xám vằn, chân to, đi khoẻ, chịu kiếm ăn.
Ngỗng mới nở chọn con có bộ lông mịn, sáng, lỗ hậu môn gọn, khô, mắt sáng, nhanh nhẹn, ăn uống bình thường.
Nếu nuôi ngỗng cái đẻ, nên chọn con có mắt đen, to, sáng, cổ nhỏ dài, ngực gọn mình dài, bụng dưới nở nang, phao câu to, những con này mắn đẻ, ấp khéo. Đối với ngỗng đực nuôi làm giống thì chọn những con có cổ ngẩng cao, ngực nở, hai chân cao, thân mình dài cá trắm, lỗ hậu môn màu hồng.
Thời kỳ ngỗng con
Là thời gian từ khi nở đến 30 ngày tuổi. Đây là thời gian đòi hỏi phải chăm sóc cẩn thận vì ngỗng mới nở còn yếu, ăn uống chưa quen, khả năng thích ứng kém.
Lúc mới nở, lông ngỗng còn ướt, giữ ngỗng trong thúng hay cót quây cao 0,8-1m, dưới lót rơm mềm, trên đậy lớp vải thưa, đến khi khô lông bắt ra ràng, bắt đầu tập cho ăn uống. Thời gian ủ lông khô kéo dài khoảng 10-12 giờ. Chú ý nếu thời tiết lạnh rét, cần thắp bóng điện để giữ ấm nhiệt độ chuồng nuôi 28-30 độ C.
Trong tuần lễ đầu, ngỗng còn yếu, chưa cho ngỗng ra ngoài, cho ăn bột ngô, gạo, mỳ... trộn với rau tươi rửa sạch thái nhỏ (ngỗng thích ăn rau diếp, xà lách). Cho ăn mỗi con 50g thức ăn tinh, 100g rau xanh mỗi ngày chia làm 4 bữa: sáng, trưa, chiều, tối (9 giờ tối), cho ăn dần từng ít một, ăn xong cho uống nước sạch ngay.
Từ ngày thứ 8 trở đi có thể thả ra bãi cỏ để ngỗng vặt cỏ ăn. Từ thời kỳ này, lượng thức ăn cho ngỗng tăng dần: mỗi con cho ăn 70g thức ăn tinh và 120g rau cỏ xanh mỗi ngày.
Từ sau 2 tuần tuổi, giảm bớt tỷ lệ thức ăn tinh và tăng rau cỏ xanh cho ngỗng. Thời kỳ này tập cho ngỗng ăn thêm thóc, khoai băm nhỏ, đưa ngỗng chăn thả ở những bãi xa. Giai đoạn ngỗng con kết thúc khi ngỗng được 30 ngày tuổi.
Thời kỳ ngỗng choai
Sau 1 tháng tuổi là thời kỳ ngỗng choai. Ngỗng choai dễ nuôi, mau lớn, phàm ăn và ít bệnh tật. Ngỗng nuôi thịt có thể nuôi chăn thả từ vài chục con đến hàng trăm con. Đàn ngỗng nuôi phải cùng lứa tuổi nhau để chúng có độ đồng đều và dễ chăm sóc. Sau mỗi buổi chăn thả về, nếu vào vụ thu hoạch lúa thì không cần phải cho ngỗng ăn thêm. Sau khi ăn no, ngỗng thích uống nước và bơi lội. Ngỗng choai được tắm và bơi lội đầy đủ sẽ có bộ lông mượt và béo tốt hơn những con ngỗng nuôi không được bơi tắm.
Nếu thời kỳ ngỗng lớn không trùng vào vụ gặt lúa, cuối ngày chăn thả về cần cho ăn thêm thóc, cám, ngô, khoai hay sắn băm nhỏ. Nếu có điều kiện thì cho ngỗng ăn thêm bã đậu, bỗng rượu hay cám công nghiệp chúng càng mau lớn.
Vỗ béo ngỗng
Tuỳ điều kiện từng gia đình nuôi mà có thể xuất chuồng sau 90 ngày, 120 hay 150 ngày tuổi. Để tăng nhanh trọng lượng ngỗng đồng thời làm tăng chất lượng thịt, nên tiến hành vỗ béo ngỗng trước khi bán. Nhốt ngỗng vào những ngăn chuồng nhỏ (mỗi ngăn một con) kín gió song thông thoáng, tránh ánh nắng trực tiếp chiếu vào chuồng, giữ yên tĩnh cho chuồng nuôi. Cho ngỗng ăn tăng thức ăn tinh, giảm vận động. Thời gian vỗ béo 12-15 ngày trước khi bán, không kéo dài hơn tốn thức ăn mà ít hiệu quả.
Nhìn chung sau khi nuôi 3-4 tháng, ngỗng thường đạt trọng lượng 4- 4,5kg, những giống ngỗng ngoại nhập có thể cao hơn, đạt 4,5- 5kg. Nếu ngỗng được nuôi dưỡng chăm sóc tốt ngay từ đầu thì thời gian có thể rút ngắn không tới 3-4 tháng nuôi.

DTK Biotech-Vet - Chăm sóc ngỗng thịt

Ngỗng là loại gia cầm dễ nuôi, hay ăn, chóng lớn, ít mắc bệnh. Ngỗng chỉ ăn cỏ, ăn rau là chính, ít dùng lương thực. Nuôi trong 4-8 tháng ngỗng đã cho thu hoạch 4-7kg.
Có nhiều giống ngỗng: ngỗng trắng, ngỗng xám vằn, loại chân thấp, chân cao... Nếu nuôi ngỗng đàn, nên chọn ngỗng xám vằn, chân to, đi khoẻ, chịu kiếm ăn.
Ngỗng mới nở chọn con có bộ lông mịn, sáng, lỗ hậu môn gọn, khô, mắt sáng, nhanh nhẹn, ăn uống bình thường.
Nếu nuôi ngỗng cái đẻ, nên chọn con có mắt đen, to, sáng, cổ nhỏ dài, ngực gọn mình dài, bụng dưới nở nang, phao câu to, những con này mắn đẻ, ấp khéo. Đối với ngỗng đực nuôi làm giống thì chọn những con có cổ ngẩng cao, ngực nở, hai chân cao, thân mình dài cá trắm, lỗ hậu môn màu hồng.
Thời kỳ ngỗng con
Là thời gian từ khi nở đến 30 ngày tuổi. Đây là thời gian đòi hỏi phải chăm sóc cẩn thận vì ngỗng mới nở còn yếu, ăn uống chưa quen, khả năng thích ứng kém.
Lúc mới nở, lông ngỗng còn ướt, giữ ngỗng trong thúng hay cót quây cao 0,8-1m, dưới lót rơm mềm, trên đậy lớp vải thưa, đến khi khô lông bắt ra ràng, bắt đầu tập cho ăn uống. Thời gian ủ lông khô kéo dài khoảng 10-12 giờ. Chú ý nếu thời tiết lạnh rét, cần thắp bóng điện để giữ ấm nhiệt độ chuồng nuôi 28-30 độ C.
Trong tuần lễ đầu, ngỗng còn yếu, chưa cho ngỗng ra ngoài, cho ăn bột ngô, gạo, mỳ... trộn với rau tươi rửa sạch thái nhỏ (ngỗng thích ăn rau diếp, xà lách). Cho ăn mỗi con 50g thức ăn tinh, 100g rau xanh mỗi ngày chia làm 4 bữa: sáng, trưa, chiều, tối (9 giờ tối), cho ăn dần từng ít một, ăn xong cho uống nước sạch ngay.
Từ ngày thứ 8 trở đi có thể thả ra bãi cỏ để ngỗng vặt cỏ ăn. Từ thời kỳ này, lượng thức ăn cho ngỗng tăng dần: mỗi con cho ăn 70g thức ăn tinh và 120g rau cỏ xanh mỗi ngày.
Từ sau 2 tuần tuổi, giảm bớt tỷ lệ thức ăn tinh và tăng rau cỏ xanh cho ngỗng. Thời kỳ này tập cho ngỗng ăn thêm thóc, khoai băm nhỏ, đưa ngỗng chăn thả ở những bãi xa. Giai đoạn ngỗng con kết thúc khi ngỗng được 30 ngày tuổi.
Thời kỳ ngỗng choai
Sau 1 tháng tuổi là thời kỳ ngỗng choai. Ngỗng choai dễ nuôi, mau lớn, phàm ăn và ít bệnh tật. Ngỗng nuôi thịt có thể nuôi chăn thả từ vài chục con đến hàng trăm con. Đàn ngỗng nuôi phải cùng lứa tuổi nhau để chúng có độ đồng đều và dễ chăm sóc. Sau mỗi buổi chăn thả về, nếu vào vụ thu hoạch lúa thì không cần phải cho ngỗng ăn thêm. Sau khi ăn no, ngỗng thích uống nước và bơi lội. Ngỗng choai được tắm và bơi lội đầy đủ sẽ có bộ lông mượt và béo tốt hơn những con ngỗng nuôi không được bơi tắm.
Nếu thời kỳ ngỗng lớn không trùng vào vụ gặt lúa, cuối ngày chăn thả về cần cho ăn thêm thóc, cám, ngô, khoai hay sắn băm nhỏ. Nếu có điều kiện thì cho ngỗng ăn thêm bã đậu, bỗng rượu hay cám công nghiệp chúng càng mau lớn.
Vỗ béo ngỗng
Tuỳ điều kiện từng gia đình nuôi mà có thể xuất chuồng sau 90 ngày, 120 hay 150 ngày tuổi. Để tăng nhanh trọng lượng ngỗng đồng thời làm tăng chất lượng thịt, nên tiến hành vỗ béo ngỗng trước khi bán. Nhốt ngỗng vào những ngăn chuồng nhỏ (mỗi ngăn một con) kín gió song thông thoáng, tránh ánh nắng trực tiếp chiếu vào chuồng, giữ yên tĩnh cho chuồng nuôi. Cho ngỗng ăn tăng thức ăn tinh, giảm vận động. Thời gian vỗ béo 12-15 ngày trước khi bán, không kéo dài hơn tốn thức ăn mà ít hiệu quả.
Nhìn chung sau khi nuôi 3-4 tháng, ngỗng thường đạt trọng lượng 4- 4,5kg, những giống ngỗng ngoại nhập có thể cao hơn, đạt 4,5- 5kg. Nếu ngỗng được nuôi dưỡng chăm sóc tốt ngay từ đầu thì thời gian có thể rút ngắn không tới 3-4 tháng nuôi.
Đọc thêm
Các phương pháp nhận biết và chẩn đoán phân biệt bệnh cúm H5N1 trên gà.
1. Chẩn đoán lâm sàng bằng mắt thường:
Tỷ lệ mắc bệnh và tỷ lệ chết rất cao. Thời gian ủ bệnh từ vài giờ đến 21 ngày, có trường hợp kéo dài đến 28 ngày. Gia cầm bệnh sốt cao; chảy nước mắt; đứng tụm một chỗ; lông xù; phù đầu và mắt; mồng, mào, yếm tím bầm; da tím tái; chân xuất huyết; chảy nước dãi ở mỏ.
Con vật khi sốt cao có biểu hiện không bình thường ở hệ thống tiêu hóa, hô hấp, sinh sản và thần kinh. Triệu chứng chung là giảm hoạt động, giảm tiêu thụ thức ăn, gầy yếu, giảm trứng. Trường hợp nặng có biểu hiện ho, khó thở, suy sụp hô hấp; rối loạn thần kinh, ỉa chảy, một số con có biểu hiện co giật hoặc ở tư thế không bình thường. Những triệu trứng trên có thể xảy ra cùng một lúc hoặc riêng rẽ.
Như vậy, khi nghi ngờ có sự xuất hiện của cúm, việc đầu tiên là ta phải quan sát tổng thể tất cả những biểu hiện bên ngoài của toàn đàn căn cứ vào các triệu chứng chính như trên. Ví dụ, đầu tiên ta quan sát xem gà có sốt không? Có xuất huyết, tụ huyết ở đâu không? Có triệu chứng thần kinh không? Có khó thở không? Tỷ lệ chết và tốc độ lây bệnh của toàn đàn như thế nào?...Từ đó có thể đưa ra những chẩn đoán sơ bộ ban đầu >> xem nghi ngờ bệnh gì nhất >>căn cứ vào đó mà có hướng quan sát bệnh tích khi mổ khám (nghĩa là khi mổ khám, ta sẽ tập trung quan sát kỹ những cơ quan có bệnh tích đặc trưng đối với bệnh mà ta nghi ngờ).
2. Nhận diện lâm sàng qua bệnh tích mổ khám:
Virus xâm nhập vào trong cơ thể thông thường đi qua miệng trước tiên nhưng không lưu cữu tại miệng mà đi tiếp vào phía trong của đường hô hấp và đi lên kết mạc mắt. Virus thường ở lại đây trong 3-5 ngày và gây ra các bệnh tích đặc trưng như xung huyết ở mí mắt; khí quản viêm, có dịch nhầy, xuất huyết tràn lan; sau đó, nó xâm nhập và gây xuất huyết gần như khắp cơ quan nội tạng trong cơ thể. Ví dụ như, xuất huyết ở cơ ngực, cơ đùi, đường ruột, dưới da, mào, tích…Sau đây là một số hình ảnh bệnh tích đặc trưng của bệnh cúm trên gia cầm mà chúng tôi tổng hợp được.
Như vậy, Sau khi Kiểm tra tổng thể toàn bộ bệnh tích mổ khám, kết hợp với các triệu chứng điển hình như trên thì về cơ bản ta đã có thể kết luận được căn nguyên gây bệnh (gần 90% là chính xác nếu con vật xuất hiện đầy đủ những triệu chứng, bệnh tích đặc trưng như trên). Tuy nhiên, để có thể khẳng định chính xác hơn đây là bệnh do virus cúm gia cầm gây ra thì ta cần phân biệt được với một số bệnh tương tự khác như Newcastle, tụ huyết trùng cấp và gumboro. Đồng thời tiến hành các phản ứng phân tích đặc trưng với cúm trong phòng thí nghiệm.
3. Chẩn đoán phân biệt cúm gia cầm với 1 số bệnh khác:

DTK Biotech-Vet - Phương pháp chẩn đoán bệnh H5N1 trên gà

Các phương pháp nhận biết và chẩn đoán phân biệt bệnh cúm H5N1 trên gà.
1. Chẩn đoán lâm sàng bằng mắt thường:
Tỷ lệ mắc bệnh và tỷ lệ chết rất cao. Thời gian ủ bệnh từ vài giờ đến 21 ngày, có trường hợp kéo dài đến 28 ngày. Gia cầm bệnh sốt cao; chảy nước mắt; đứng tụm một chỗ; lông xù; phù đầu và mắt; mồng, mào, yếm tím bầm; da tím tái; chân xuất huyết; chảy nước dãi ở mỏ.
Con vật khi sốt cao có biểu hiện không bình thường ở hệ thống tiêu hóa, hô hấp, sinh sản và thần kinh. Triệu chứng chung là giảm hoạt động, giảm tiêu thụ thức ăn, gầy yếu, giảm trứng. Trường hợp nặng có biểu hiện ho, khó thở, suy sụp hô hấp; rối loạn thần kinh, ỉa chảy, một số con có biểu hiện co giật hoặc ở tư thế không bình thường. Những triệu trứng trên có thể xảy ra cùng một lúc hoặc riêng rẽ.
Như vậy, khi nghi ngờ có sự xuất hiện của cúm, việc đầu tiên là ta phải quan sát tổng thể tất cả những biểu hiện bên ngoài của toàn đàn căn cứ vào các triệu chứng chính như trên. Ví dụ, đầu tiên ta quan sát xem gà có sốt không? Có xuất huyết, tụ huyết ở đâu không? Có triệu chứng thần kinh không? Có khó thở không? Tỷ lệ chết và tốc độ lây bệnh của toàn đàn như thế nào?...Từ đó có thể đưa ra những chẩn đoán sơ bộ ban đầu >> xem nghi ngờ bệnh gì nhất >>căn cứ vào đó mà có hướng quan sát bệnh tích khi mổ khám (nghĩa là khi mổ khám, ta sẽ tập trung quan sát kỹ những cơ quan có bệnh tích đặc trưng đối với bệnh mà ta nghi ngờ).
2. Nhận diện lâm sàng qua bệnh tích mổ khám:
Virus xâm nhập vào trong cơ thể thông thường đi qua miệng trước tiên nhưng không lưu cữu tại miệng mà đi tiếp vào phía trong của đường hô hấp và đi lên kết mạc mắt. Virus thường ở lại đây trong 3-5 ngày và gây ra các bệnh tích đặc trưng như xung huyết ở mí mắt; khí quản viêm, có dịch nhầy, xuất huyết tràn lan; sau đó, nó xâm nhập và gây xuất huyết gần như khắp cơ quan nội tạng trong cơ thể. Ví dụ như, xuất huyết ở cơ ngực, cơ đùi, đường ruột, dưới da, mào, tích…Sau đây là một số hình ảnh bệnh tích đặc trưng của bệnh cúm trên gia cầm mà chúng tôi tổng hợp được.
Như vậy, Sau khi Kiểm tra tổng thể toàn bộ bệnh tích mổ khám, kết hợp với các triệu chứng điển hình như trên thì về cơ bản ta đã có thể kết luận được căn nguyên gây bệnh (gần 90% là chính xác nếu con vật xuất hiện đầy đủ những triệu chứng, bệnh tích đặc trưng như trên). Tuy nhiên, để có thể khẳng định chính xác hơn đây là bệnh do virus cúm gia cầm gây ra thì ta cần phân biệt được với một số bệnh tương tự khác như Newcastle, tụ huyết trùng cấp và gumboro. Đồng thời tiến hành các phản ứng phân tích đặc trưng với cúm trong phòng thí nghiệm.
3. Chẩn đoán phân biệt cúm gia cầm với 1 số bệnh khác:
Đọc thêm
Ngay trong tuần đầu, gà con phải tập làm quen với thức ăn, nước uống và các điều kiện ngoại cảnh rất khác biệt so với môi trường máy ấp nhằm giúp gà hoàn thiện các chức năng sinh lý để chúng sinh trưởng và phát triển tốt.
1. Chọn con giống tốt:
Cần xác định mục tiêu chăn nuôi rõ ràng để chọn con giống phù hợp với sản phẩm dự kiến. Nếu sản xuất trứng ăn, nhà chăn nuôi phải mua gà mái chuyên trứng như gà Isa Brown, Babcob. Có 2 lựa chọn khi nuôi gà thịt. Nuôi gà thịt công nghiệp thì chọn gà AA, Cobb, thời gian nuôi ngắn, xuất chuồng lúc 5 – 6 tuần tuổi. Nuôi gà thịt lông màu như lương phượng, tam hoàng, thời gian nuôi khoảng 9 – 10 tuần, cần có hợp đồng tiêu thụ chắc chắn.
Con giống phải được mua từ những cơ sở giống có uy tín, trại giống phải đạt tiêu chuẩn theo quy định. Điều quan trọng nhất là con giống phải được ấp từ trứng của đàn gà giống đạt tiêu chuẩn giống, khỏe mạnh, được nuôi dưỡng hợp lý. Gà con phải đồng đều, di chuyển nhanh nhẹn, đạt tiêu chuẩn loại I, mắt to và sáng, mỏ to vừa phải, chắc chắn, chân vững chắc không dị tật, lông khô óng ánh, màng da chân bóng, không bị bết lông, không hở rốn, bụng mềm cân đối.
Loại bỏ những con quá nhỏ, lông xơ xác, hở rốn, da chân khô và nhăn, chảy nước mũi nước mắt. Để thành công trong chăn nuôi, trước khi mua gà con phải nắm được các thông tin về nguồn gốc đàn gà, uy tín của trại giống và nắm vững đặc tính năng suất của đàn gà sắp nuôi. Tuyệt đối không mua gà giống trôi nổi, không rõ nguồn gốc.
Trọng lượng ở 1 ngày tuổi: gà hướng trứng từ 38 gam, gà hướng thịt từ 40 gam trở lên.
2. Chuồng trại và trang thiết bị cho gà con
Trước khi bắt gà con phải chuẩn bị chuồng úm để sưởi ấm chu đáo. Chuồng phải được dọn vệ sinh, sát trùng và để trống ít nhất 3 tuần trước khi nuôi đợt mới. Chuồng úm gà con nên bố trí ở đầu hướng gió, cách ly xa chuồng gà trưởng thành để tránh lây lan bệnh từ gà lớn sang gà con. Nơi nuôi gà con phải đảm bảo khô ráo, tránh mưa tạt, gió lùa, an toàn, tránh chó, mèo, chuột gây hại gà con.
Nếu úm trong lồng phải sửa chữa những chỗ bị hỏng, lưới rách được thay để tránh tổn thương cho gà con. Sàn lồng úm gà con phẳng bằng lưới, kích thước mắt lưới khoảng 1 cm sao cho chân gà không bị lọt và không đọng phân. Những ngày đầu nên trải giấy xốp nhằm giúp gà tập ăn, vừa giữ ấm cho gà và tránh gió lùa từ dưới lên. Sau 3 – 4 ngày, gà con đã cứng cáp có thể bỏ giấy lót sàn. Nếu trời lạnh hoặc ban đêm, chung quanh lồng úm cần được che kín trong tuần đầu để giữ nhiệt. Nguồn nhiệt bố trí ở 1 phần lồng tạo chênh lệch nhiệt độ trong lồng úm. Úm trong lồng nên chia thành đàn nhỏ, tối đa 200 gà, nhằm tránh gà túm tụm lại khi mất điện hoặc khi bị lạnh gây đè chết. Dùng lồng úm gà con sẽ tiết kiệm được diện tích chuồng, tiết kiệm năng lượng sưởi ấm, dễ kiểm soát bệnh cầu trùng.
Nếu úm trên nền phải chuẩn bị chất độn chuồng khô, sạch, an toàn cho gà con, chất độn chuồng mềm, xốp. Nếu lót sàn bằng trấu thì trong những ngày đầu nên trải giấy, tránh gà con ăn phải chất độn chuồng hoặc cạnh sắc của trấu gây nứt chân gà. Úm nền cũng phải chia thành các ô nhỏ khoảng 300 con mỗi chụp úm nhằm tránh gà dồn lại, gây chết do đè lên nhau khi mất điện hoặc khi lạnh, tránh tình trạng gà con đi lạc xa không tìm thấy nguồn nhiệt nên bị lạnh.
Nhiệt độ, ẩm độ trong chuồng úm gà con
chăm sóc gà con
Với điều kiện khí hậu nước ta thường phải úm gà trong 3 tuần về mùa đông, 2 tuần về mùa hè. Những nơi khí hậu nóng chỉ cần sưởi ấm cho gà trong tuần đầu, sang tuần thứ 2 chỉ cần sưởi ấm vào ban đêm và khi trời mưa gió nhiệt độ xuống thấp dưới 270C.
Máng ăn: trong 1 – 2 ngày đầu, cho gà tập ăn trên khay hoặc trên giấy trải ở nền chuồng, sau đó cho ăn bằng máng dài hoặc tròn. Chiều cao thành máng khoảng 5 cm, có gờ để gà con không bới làm rơi vãi hoặc bẩn thức ăn. Tùy theo số lượng gà nuôi, máng ăn phải đảm bảo đạt 5 cm/con.
Máng uống: phải bố trí đủ, cấu trúc máng phù hợp với gà con, độ cao máng sao cho gà con uống được nước mà không bị ướt lông cổ. Nước uống phải đảm bảo sạch và tiết kiệm được nước. Nếu dùng núm uống phải tập cho gà con uống nước trong những giờ đầu bằng cách đưa mỏ gà vào núm uống để gà có thể uống nước, chỉ cần tập cho khoảng 30 – 40 % số gà là chúng sẽ bắt chước nhau. Trong những giờ đầu phải quan sát và đánh giá gà con tiếp cận được thức ăn và nước uống thuận tiện không.
Máng ăn và máng uống bố trí đủ gần sao cho gà con không phải di chuyển quá 0,5 m để ăn và uống.
Thức ăn cho gà con: Tùy theo giống gà có tốc độ sinh trưởng khác nhau mà nhu cầu dinh dưỡng trong những tuần đầu khác nhau. Gà thịt nặng cân có tốc độ sinh trưởng cao nên trong 2 tuần đầu có nhu cầu protein cao (22 – 23 %), sau đó giảm dần. Những giống gà chuyên trứng nhẹ cân có tốc độ tăng trọng thấp hơn nên thức ăn khởi đầu chỉ cần mức protein 20 – 21 %, sau 4 tuần mức protein trong thức ăn giảm dần. Gà con mới nở thường bị thiếu vitamin A nên trong tuần đầu phải cung cấp lượng vitamin A khoảng 2000 IU/ con, với liều cao như vậy gà con có thể dự trữ trong gan và trong mô mỡ. Trong ngày đầu cho gà tập ăn trên khay bằng bắp hoặc tấm để gà con quen với việc mổ thức ăn và tiêu nhanh lòng đỏ trong ổ bụng. Trong 3 tuần đầu cho ăn tự do suốt ngày đêm, như vậy gà con có thể nhận lượng thức ăn tối đa mà chúng có thể nhận để kích thích sự phát triển bộ máy tiêu hóa.
Gà con tiêu thụ lượng thức ăn ít nên thức ăn gà con trong những tuần đầu có hàm lượng chất dinh dưỡng cao nhằm đảm bảo cung cấp đủ nhu cầu dinh dưỡng của chúng. Mặt khác phải cấp thức ăn nhiều lần trong ngày, để gà con luôn được ăn thức ăn mới, tránh làm bẩn hoặc hỏng thức ăn.
Nhu cầu dinh dưỡng cho gà con trong 2 tuần đầu
chế độ dinh dưỡng gà con
3. Chăm sóc và nuôi dưỡng gà con:
– Nhiệt độ úm gà con trong tuần đầu từ 33 – 350C dưới chụp úm, sau đó mỗi tuần giảm 20C. Khi trời lạnh phải bật thiết bị úm trước sao cho nhiệt độ chuồng úm đủ nhiệt khi thả gà con. Quan sát sự phân bố của gà con trong chuồng để đánh giá tình trạng nhiệt. Nếu gà phân tán đều trong chuồng, gà con sởn sơ, nhanh nhẹn là nhiệt độ đạt tối ưu, khi đó gà con ăn nhiều, khỏe và lớn nhanh. Nếu gà con nằm túm tụm dưới nguồn nhiệt, ăn ít, uống nước ít là gà bị lạnh, cần tăng nhiệt độ. Nếu gà nằm túm tụm ở góc chuồng xa nguồn nhiệt, gà há mỏ thở nhanh, ăn ít, uống nước nhiều là do nhiệt độ quá nóng, cần giảm nhiệt độ. Chuồng nuôi gà con phải đảm bảo khô, ấm và thoáng.
– Ẩm độ trong chuồng úm gà con tốt nhất ở khoảng 55 – 75 %, với mức ẩm độ này hơi nước trong phân bay nhanh, nên phân khô, gà khỏe mạnh.
– Chế độ chiếu sáng cho gà con rất quan trọng. Ánh sáng cần để gà nhận biết và lấy thức ăn. Gà con trong tuần đầu cần chiếu sáng 23 giờ mỗi ngày, sau đó mỗi tuần giảm 2 – 3 giờ chiếu sáng mỗi ngày cho đến khi thời gian chiếu sáng còn 12 giờ/ngày và ổn định suốt trong thời kỳ sinh trưởng. Cường độ chiếu sáng cho gà con khoảng 3,5 – 4 W/m2 (20 lux), vừa đủ cho gà nhìn thấy thức ăn là đủ, ánh sáng trắng hoặc màu vàng cam nhẹ thích hợp cho gà con.
– Mật độ úm gà con có xu hướng cao nhằm tiết kiệm năng lượng sưởi ấm và tận dụng chuồng một cách hiệu quả nhưng vẫn phải đảm bảo điều kiện tiểu khí hậu trong chuồng. Úm trong lồng 2 tuần đầu có thể 50 gà/m2, sau đó giảm dần. Mật độ thích hợp khi úm ở chuồng nền là 25 – 30 gà/m2.
Gà chuyên lấy trứng nên cắt mỏ để tránh hiện tượng cắn mổ nhau, bới thức ăn làm rơi vãi láng phí thức ăn, đảm bảo gà con phát triển đồng đều. Nên cắt mỏ gà lần đầu vào lúc 10 – 21 ngày tuổi. Gà được cắt mỏ trên khoảng 1/3 từ ngoài vào, mỏ dưới chỉ đốt nóng đầu mỏ để hạn chế phát triển. Cắt mỏ sớm vào những ngày đầu không có lợi vì gà con rất khó uống nước và việc tập ăn cũng gặp trở ngại, thao tác khó nên dễ bỏ sót, mỏ nhanh chóng phát triển nên phải cắt lại trong khoảng thời gian ngắn. Thiết bị cắt mỏ với lưỡi dao được nung nóng nên vừa cắt mỏ vừa đốt vết cắt để bịt những mạch máu tránh chảy máu. Lưỡi dao phải bén để vết cắt gọn, không gây dập mỏ gà con. Cắt mỏ không đúng quy cách sẽ gây chảy máu hoặc dập mỏ. Sau khi cắt mỏ, nên tăng mực nước và thức ăn trong máng nhằm tránh đau cho gà.
Cắt móng, đeo số đánh dấu gà giống trước khi thả gà vào chuồng được thực hiện theo chương trình giống.
Quy trình phòng bệnh: trong 3 ngày đầu cho uống kháng sinh phòng một số bệnh do vi khuẩn như bệnh thương hàn, bệnh hô hấp mãn tính (CRD), viêm rốn và bệnh do E.coli. Thuốc được hòa vào nước uống, nên xen kẽ bổ xung vitamin ADE và B complex. Trước khi cho uống thuốc nên cho gà khát khoảng 2 – 3 giờ. Nước có pha kháng sinh hoặc vitamin nên tính toán sao cho đủ lượng uống trong vòng 20 – 30 phút, sau đó cho uống nước thường. Nếu gà con hở rốn hoặc còn dây rốn phải cắt bỏ và sát trùng rốn bằng cồn iot 0,5 % hoặc xanh metylen 1 %. Vắc-xin phòng bệnh Marek tiêm lúc 1 ngày tuổi cho những đàn gà nuôi trên 12 tuần như gà đẻ trứng, gà giống hoặc gà nuôi thịt 14 – 16 tuần như gà nagoya, tam hoàng. Phòng bệnh Newcastle, Gumboro và bệnh đậu bằng vacxin theo quy trình.
tiêm phòng gà con
Gà thịt công nghiệp nuôi 5 – 6 tuần có thể không cần chủng. Hiện nay có nhiều loại vắc-xin phòng bệnh Gumboro và Newcastle phối hợp với một vài loại bệnh khác, cho nên tùy điều kiện thực tế mà chọn loại vắc-xin phù hợp nhất.

DTK Biotech-Vet - Những điểm cần chú ý với gà con tuần đầu

Ngay trong tuần đầu, gà con phải tập làm quen với thức ăn, nước uống và các điều kiện ngoại cảnh rất khác biệt so với môi trường máy ấp nhằm giúp gà hoàn thiện các chức năng sinh lý để chúng sinh trưởng và phát triển tốt.
1. Chọn con giống tốt:
Cần xác định mục tiêu chăn nuôi rõ ràng để chọn con giống phù hợp với sản phẩm dự kiến. Nếu sản xuất trứng ăn, nhà chăn nuôi phải mua gà mái chuyên trứng như gà Isa Brown, Babcob. Có 2 lựa chọn khi nuôi gà thịt. Nuôi gà thịt công nghiệp thì chọn gà AA, Cobb, thời gian nuôi ngắn, xuất chuồng lúc 5 – 6 tuần tuổi. Nuôi gà thịt lông màu như lương phượng, tam hoàng, thời gian nuôi khoảng 9 – 10 tuần, cần có hợp đồng tiêu thụ chắc chắn.
Con giống phải được mua từ những cơ sở giống có uy tín, trại giống phải đạt tiêu chuẩn theo quy định. Điều quan trọng nhất là con giống phải được ấp từ trứng của đàn gà giống đạt tiêu chuẩn giống, khỏe mạnh, được nuôi dưỡng hợp lý. Gà con phải đồng đều, di chuyển nhanh nhẹn, đạt tiêu chuẩn loại I, mắt to và sáng, mỏ to vừa phải, chắc chắn, chân vững chắc không dị tật, lông khô óng ánh, màng da chân bóng, không bị bết lông, không hở rốn, bụng mềm cân đối.
Loại bỏ những con quá nhỏ, lông xơ xác, hở rốn, da chân khô và nhăn, chảy nước mũi nước mắt. Để thành công trong chăn nuôi, trước khi mua gà con phải nắm được các thông tin về nguồn gốc đàn gà, uy tín của trại giống và nắm vững đặc tính năng suất của đàn gà sắp nuôi. Tuyệt đối không mua gà giống trôi nổi, không rõ nguồn gốc.
Trọng lượng ở 1 ngày tuổi: gà hướng trứng từ 38 gam, gà hướng thịt từ 40 gam trở lên.
2. Chuồng trại và trang thiết bị cho gà con
Trước khi bắt gà con phải chuẩn bị chuồng úm để sưởi ấm chu đáo. Chuồng phải được dọn vệ sinh, sát trùng và để trống ít nhất 3 tuần trước khi nuôi đợt mới. Chuồng úm gà con nên bố trí ở đầu hướng gió, cách ly xa chuồng gà trưởng thành để tránh lây lan bệnh từ gà lớn sang gà con. Nơi nuôi gà con phải đảm bảo khô ráo, tránh mưa tạt, gió lùa, an toàn, tránh chó, mèo, chuột gây hại gà con.
Nếu úm trong lồng phải sửa chữa những chỗ bị hỏng, lưới rách được thay để tránh tổn thương cho gà con. Sàn lồng úm gà con phẳng bằng lưới, kích thước mắt lưới khoảng 1 cm sao cho chân gà không bị lọt và không đọng phân. Những ngày đầu nên trải giấy xốp nhằm giúp gà tập ăn, vừa giữ ấm cho gà và tránh gió lùa từ dưới lên. Sau 3 – 4 ngày, gà con đã cứng cáp có thể bỏ giấy lót sàn. Nếu trời lạnh hoặc ban đêm, chung quanh lồng úm cần được che kín trong tuần đầu để giữ nhiệt. Nguồn nhiệt bố trí ở 1 phần lồng tạo chênh lệch nhiệt độ trong lồng úm. Úm trong lồng nên chia thành đàn nhỏ, tối đa 200 gà, nhằm tránh gà túm tụm lại khi mất điện hoặc khi bị lạnh gây đè chết. Dùng lồng úm gà con sẽ tiết kiệm được diện tích chuồng, tiết kiệm năng lượng sưởi ấm, dễ kiểm soát bệnh cầu trùng.
Nếu úm trên nền phải chuẩn bị chất độn chuồng khô, sạch, an toàn cho gà con, chất độn chuồng mềm, xốp. Nếu lót sàn bằng trấu thì trong những ngày đầu nên trải giấy, tránh gà con ăn phải chất độn chuồng hoặc cạnh sắc của trấu gây nứt chân gà. Úm nền cũng phải chia thành các ô nhỏ khoảng 300 con mỗi chụp úm nhằm tránh gà dồn lại, gây chết do đè lên nhau khi mất điện hoặc khi lạnh, tránh tình trạng gà con đi lạc xa không tìm thấy nguồn nhiệt nên bị lạnh.
Nhiệt độ, ẩm độ trong chuồng úm gà con
chăm sóc gà con
Với điều kiện khí hậu nước ta thường phải úm gà trong 3 tuần về mùa đông, 2 tuần về mùa hè. Những nơi khí hậu nóng chỉ cần sưởi ấm cho gà trong tuần đầu, sang tuần thứ 2 chỉ cần sưởi ấm vào ban đêm và khi trời mưa gió nhiệt độ xuống thấp dưới 270C.
Máng ăn: trong 1 – 2 ngày đầu, cho gà tập ăn trên khay hoặc trên giấy trải ở nền chuồng, sau đó cho ăn bằng máng dài hoặc tròn. Chiều cao thành máng khoảng 5 cm, có gờ để gà con không bới làm rơi vãi hoặc bẩn thức ăn. Tùy theo số lượng gà nuôi, máng ăn phải đảm bảo đạt 5 cm/con.
Máng uống: phải bố trí đủ, cấu trúc máng phù hợp với gà con, độ cao máng sao cho gà con uống được nước mà không bị ướt lông cổ. Nước uống phải đảm bảo sạch và tiết kiệm được nước. Nếu dùng núm uống phải tập cho gà con uống nước trong những giờ đầu bằng cách đưa mỏ gà vào núm uống để gà có thể uống nước, chỉ cần tập cho khoảng 30 – 40 % số gà là chúng sẽ bắt chước nhau. Trong những giờ đầu phải quan sát và đánh giá gà con tiếp cận được thức ăn và nước uống thuận tiện không.
Máng ăn và máng uống bố trí đủ gần sao cho gà con không phải di chuyển quá 0,5 m để ăn và uống.
Thức ăn cho gà con: Tùy theo giống gà có tốc độ sinh trưởng khác nhau mà nhu cầu dinh dưỡng trong những tuần đầu khác nhau. Gà thịt nặng cân có tốc độ sinh trưởng cao nên trong 2 tuần đầu có nhu cầu protein cao (22 – 23 %), sau đó giảm dần. Những giống gà chuyên trứng nhẹ cân có tốc độ tăng trọng thấp hơn nên thức ăn khởi đầu chỉ cần mức protein 20 – 21 %, sau 4 tuần mức protein trong thức ăn giảm dần. Gà con mới nở thường bị thiếu vitamin A nên trong tuần đầu phải cung cấp lượng vitamin A khoảng 2000 IU/ con, với liều cao như vậy gà con có thể dự trữ trong gan và trong mô mỡ. Trong ngày đầu cho gà tập ăn trên khay bằng bắp hoặc tấm để gà con quen với việc mổ thức ăn và tiêu nhanh lòng đỏ trong ổ bụng. Trong 3 tuần đầu cho ăn tự do suốt ngày đêm, như vậy gà con có thể nhận lượng thức ăn tối đa mà chúng có thể nhận để kích thích sự phát triển bộ máy tiêu hóa.
Gà con tiêu thụ lượng thức ăn ít nên thức ăn gà con trong những tuần đầu có hàm lượng chất dinh dưỡng cao nhằm đảm bảo cung cấp đủ nhu cầu dinh dưỡng của chúng. Mặt khác phải cấp thức ăn nhiều lần trong ngày, để gà con luôn được ăn thức ăn mới, tránh làm bẩn hoặc hỏng thức ăn.
Nhu cầu dinh dưỡng cho gà con trong 2 tuần đầu
chế độ dinh dưỡng gà con
3. Chăm sóc và nuôi dưỡng gà con:
– Nhiệt độ úm gà con trong tuần đầu từ 33 – 350C dưới chụp úm, sau đó mỗi tuần giảm 20C. Khi trời lạnh phải bật thiết bị úm trước sao cho nhiệt độ chuồng úm đủ nhiệt khi thả gà con. Quan sát sự phân bố của gà con trong chuồng để đánh giá tình trạng nhiệt. Nếu gà phân tán đều trong chuồng, gà con sởn sơ, nhanh nhẹn là nhiệt độ đạt tối ưu, khi đó gà con ăn nhiều, khỏe và lớn nhanh. Nếu gà con nằm túm tụm dưới nguồn nhiệt, ăn ít, uống nước ít là gà bị lạnh, cần tăng nhiệt độ. Nếu gà nằm túm tụm ở góc chuồng xa nguồn nhiệt, gà há mỏ thở nhanh, ăn ít, uống nước nhiều là do nhiệt độ quá nóng, cần giảm nhiệt độ. Chuồng nuôi gà con phải đảm bảo khô, ấm và thoáng.
– Ẩm độ trong chuồng úm gà con tốt nhất ở khoảng 55 – 75 %, với mức ẩm độ này hơi nước trong phân bay nhanh, nên phân khô, gà khỏe mạnh.
– Chế độ chiếu sáng cho gà con rất quan trọng. Ánh sáng cần để gà nhận biết và lấy thức ăn. Gà con trong tuần đầu cần chiếu sáng 23 giờ mỗi ngày, sau đó mỗi tuần giảm 2 – 3 giờ chiếu sáng mỗi ngày cho đến khi thời gian chiếu sáng còn 12 giờ/ngày và ổn định suốt trong thời kỳ sinh trưởng. Cường độ chiếu sáng cho gà con khoảng 3,5 – 4 W/m2 (20 lux), vừa đủ cho gà nhìn thấy thức ăn là đủ, ánh sáng trắng hoặc màu vàng cam nhẹ thích hợp cho gà con.
– Mật độ úm gà con có xu hướng cao nhằm tiết kiệm năng lượng sưởi ấm và tận dụng chuồng một cách hiệu quả nhưng vẫn phải đảm bảo điều kiện tiểu khí hậu trong chuồng. Úm trong lồng 2 tuần đầu có thể 50 gà/m2, sau đó giảm dần. Mật độ thích hợp khi úm ở chuồng nền là 25 – 30 gà/m2.
Gà chuyên lấy trứng nên cắt mỏ để tránh hiện tượng cắn mổ nhau, bới thức ăn làm rơi vãi láng phí thức ăn, đảm bảo gà con phát triển đồng đều. Nên cắt mỏ gà lần đầu vào lúc 10 – 21 ngày tuổi. Gà được cắt mỏ trên khoảng 1/3 từ ngoài vào, mỏ dưới chỉ đốt nóng đầu mỏ để hạn chế phát triển. Cắt mỏ sớm vào những ngày đầu không có lợi vì gà con rất khó uống nước và việc tập ăn cũng gặp trở ngại, thao tác khó nên dễ bỏ sót, mỏ nhanh chóng phát triển nên phải cắt lại trong khoảng thời gian ngắn. Thiết bị cắt mỏ với lưỡi dao được nung nóng nên vừa cắt mỏ vừa đốt vết cắt để bịt những mạch máu tránh chảy máu. Lưỡi dao phải bén để vết cắt gọn, không gây dập mỏ gà con. Cắt mỏ không đúng quy cách sẽ gây chảy máu hoặc dập mỏ. Sau khi cắt mỏ, nên tăng mực nước và thức ăn trong máng nhằm tránh đau cho gà.
Cắt móng, đeo số đánh dấu gà giống trước khi thả gà vào chuồng được thực hiện theo chương trình giống.
Quy trình phòng bệnh: trong 3 ngày đầu cho uống kháng sinh phòng một số bệnh do vi khuẩn như bệnh thương hàn, bệnh hô hấp mãn tính (CRD), viêm rốn và bệnh do E.coli. Thuốc được hòa vào nước uống, nên xen kẽ bổ xung vitamin ADE và B complex. Trước khi cho uống thuốc nên cho gà khát khoảng 2 – 3 giờ. Nước có pha kháng sinh hoặc vitamin nên tính toán sao cho đủ lượng uống trong vòng 20 – 30 phút, sau đó cho uống nước thường. Nếu gà con hở rốn hoặc còn dây rốn phải cắt bỏ và sát trùng rốn bằng cồn iot 0,5 % hoặc xanh metylen 1 %. Vắc-xin phòng bệnh Marek tiêm lúc 1 ngày tuổi cho những đàn gà nuôi trên 12 tuần như gà đẻ trứng, gà giống hoặc gà nuôi thịt 14 – 16 tuần như gà nagoya, tam hoàng. Phòng bệnh Newcastle, Gumboro và bệnh đậu bằng vacxin theo quy trình.
tiêm phòng gà con
Gà thịt công nghiệp nuôi 5 – 6 tuần có thể không cần chủng. Hiện nay có nhiều loại vắc-xin phòng bệnh Gumboro và Newcastle phối hợp với một vài loại bệnh khác, cho nên tùy điều kiện thực tế mà chọn loại vắc-xin phù hợp nhất.
Đọc thêm
Bệnh Niucatxơn là bệnh nguy hiểm ở gà thường xảy ra quanh năm nhất là lúc chuyển mùa nhiệt độ hạ thấp đây là thời điểm bệnh Niucatxơn hay bệnh gà rù thường dễ xuất hiện.
1. Nguyên nhân:
Bệnh lây lan qua đường tiêu hóa và hô hấp, do tiếp xúc giữa gà ốm và gà khỏe, do phương tiện vận chuyển thức ăn, nước uống nhiễm mầm bệnh, do tiếp xúc với động vật, chim hoang dã mang mầm bệnh, bệnh gây viêm, xuất huyết, loét niêm mạc đường tiêu hoá, nhiễm trùng máu, thần kinh… nên thường gây tử vong ở gà rất cao.
2. Triệu chứng:
Gà bỏ ăn, đứng khoác áo tơi, chân lạnh, hắt hơi, khò khè, chảy nước mũi nhớt trắng - đỏ, khát nước uống nhiều nước, diều căng mềm toàn nước, diều chướng toàn hơi, chảy nước nhớt có dây ở miệng, gà thường vươn cổ kêu cho dễ thở, lúc đầu gà đi phân táo bón sau đó lại tiêu chảy phân có màu trắng, xanh (phân cứt cò), có bọt hoặc máu. Gà sốt cao mào tím tái, thường chết rất nhanh, sống sót để lại di chứng thần kinh, nghẹo cổ, đi vòng quanh, mổ thức ăn không chính xác.
3. Phòng bệnh:
Không có thuốc điều trị bệnh Niucatxơn, do vậy phòng bệnh là chính, không nên nuôi chung gà các lứa tuổi. Bên cạnh đó người chăn nuôi phải luôn chú ý đến khâu vệ sinh thức ăn, nước uống, chuồng trại thì hiệu quả phòng bệnh mới cao.
- Phòng bệnh bằng vacxin:
Dùng vacxin Laxota nhỏ mắt mũi lúc 3-7 ngày tuổi, 21 ngày tuổi.
Tiêm vac xin Niucatxơn hệ I lúc 60 ngày tuổi và 135 ngày tuổi.
Hoặc sử dụng vacxin Niucatxơn chịu nhiệt pha nước cho uống theo hướng dẫn của thú y.
Cần chú ý đến tác dụng và thời hạn của loại vac xin này khi đến thời điểm phải dùng ngay và hết thời hạn thì phải dùng tiếp để gà có thể miễn dịch bền vững.
- Khi có dịch niucatxơn xảy ra:
Khi có bệnh xảy ra báo ngay cho cán bộ thú y cơ sở, dùng vac xin, bổ sung thuốc bổ để tăng sức đề kháng cho những đàn gà chưa mắc bệnh như: Bcomplex, chất điện giải, Vitamin C. Cách ly đàn gà ốm, không bán chạy gà ốm. Người nuôi gà ốm không tiếp xúc với đàn gà khác, rắc vôi bột và phun thuốc sát trùng chuồng nuôi, sân thả, dụng cụ và khu vực xung quanh.
Ngoài ra có thể kết hợp dùng bài thuốc đông y như: Hoàng liên: 16 gam, Huyền sâm: 12 gam, Bạch thược: 12 gam, Hồng hoa: 8 gam sắc kỹ 2 nước rồi lọc bỏ bã lấy dịch lọc làm thuốc cho gà uống hoặc trộn vào thức ăn với liều trên dùng đủ cho 10 gà trưởng thành hoặc 20 gà hậu bị hoặc 40 gà con. Định kỳ 3 tháng 1 lần, để phòng bệnh cho gà để đạt hiệu quả cao.

DTK Biotech-Vet - Bệnh Niucatxơn ở gà

Bệnh Niucatxơn là bệnh nguy hiểm ở gà thường xảy ra quanh năm nhất là lúc chuyển mùa nhiệt độ hạ thấp đây là thời điểm bệnh Niucatxơn hay bệnh gà rù thường dễ xuất hiện.
1. Nguyên nhân:
Bệnh lây lan qua đường tiêu hóa và hô hấp, do tiếp xúc giữa gà ốm và gà khỏe, do phương tiện vận chuyển thức ăn, nước uống nhiễm mầm bệnh, do tiếp xúc với động vật, chim hoang dã mang mầm bệnh, bệnh gây viêm, xuất huyết, loét niêm mạc đường tiêu hoá, nhiễm trùng máu, thần kinh… nên thường gây tử vong ở gà rất cao.
2. Triệu chứng:
Gà bỏ ăn, đứng khoác áo tơi, chân lạnh, hắt hơi, khò khè, chảy nước mũi nhớt trắng - đỏ, khát nước uống nhiều nước, diều căng mềm toàn nước, diều chướng toàn hơi, chảy nước nhớt có dây ở miệng, gà thường vươn cổ kêu cho dễ thở, lúc đầu gà đi phân táo bón sau đó lại tiêu chảy phân có màu trắng, xanh (phân cứt cò), có bọt hoặc máu. Gà sốt cao mào tím tái, thường chết rất nhanh, sống sót để lại di chứng thần kinh, nghẹo cổ, đi vòng quanh, mổ thức ăn không chính xác.
3. Phòng bệnh:
Không có thuốc điều trị bệnh Niucatxơn, do vậy phòng bệnh là chính, không nên nuôi chung gà các lứa tuổi. Bên cạnh đó người chăn nuôi phải luôn chú ý đến khâu vệ sinh thức ăn, nước uống, chuồng trại thì hiệu quả phòng bệnh mới cao.
- Phòng bệnh bằng vacxin:
Dùng vacxin Laxota nhỏ mắt mũi lúc 3-7 ngày tuổi, 21 ngày tuổi.
Tiêm vac xin Niucatxơn hệ I lúc 60 ngày tuổi và 135 ngày tuổi.
Hoặc sử dụng vacxin Niucatxơn chịu nhiệt pha nước cho uống theo hướng dẫn của thú y.
Cần chú ý đến tác dụng và thời hạn của loại vac xin này khi đến thời điểm phải dùng ngay và hết thời hạn thì phải dùng tiếp để gà có thể miễn dịch bền vững.
- Khi có dịch niucatxơn xảy ra:
Khi có bệnh xảy ra báo ngay cho cán bộ thú y cơ sở, dùng vac xin, bổ sung thuốc bổ để tăng sức đề kháng cho những đàn gà chưa mắc bệnh như: Bcomplex, chất điện giải, Vitamin C. Cách ly đàn gà ốm, không bán chạy gà ốm. Người nuôi gà ốm không tiếp xúc với đàn gà khác, rắc vôi bột và phun thuốc sát trùng chuồng nuôi, sân thả, dụng cụ và khu vực xung quanh.
Ngoài ra có thể kết hợp dùng bài thuốc đông y như: Hoàng liên: 16 gam, Huyền sâm: 12 gam, Bạch thược: 12 gam, Hồng hoa: 8 gam sắc kỹ 2 nước rồi lọc bỏ bã lấy dịch lọc làm thuốc cho gà uống hoặc trộn vào thức ăn với liều trên dùng đủ cho 10 gà trưởng thành hoặc 20 gà hậu bị hoặc 40 gà con. Định kỳ 3 tháng 1 lần, để phòng bệnh cho gà để đạt hiệu quả cao.
Đọc thêm