Đặc điểm chung của Dịch tả lợn châu Phi
Dịch tả lợn châu Phi (tên tiếng Anh là African swine fever – ASF) là bệnh truyền nhiễm xảy ra do vi rút gây ra. Bệnh có đặc điểm lây lan nhanh và xảy ra ở mọi loài lợn và lợn hoang dã; bệnh xảy ra ở mọi lứa tuổi và mọi loại lợn. Bệnh gây thiệt hại nghiêm trọng với tỷ lệ chết cao lên đến 100%. Vi rút gây ra bệnh Dịch tả lợn châu Phi (ASFV) có sức đề kháng cao trong môi trường. Lợn khỏi bệnh có khả năng mang vi rút trong thời gian dài, có thể là vật chủ mang trùng suốt đời, do vậy khó có thể loại trừ được bệnh nếu để xảy ra bệnh Dịch tả lợn châu Phi.

Phân bố của Dịch tả lợn châu Phi
– Năm 1921, bệnh Dịch tả lợn châu Phi lần đầu xuất hiện tại Kenya, châu Phi, sau đó đã trở thành dịch địa phương tại nhiều nước châu Phi.
– Năm 1957, lần đầu tiên bệnh Dịch tả lợn châu Phi được phát hiện và báo cáo tại châu Âu và đến nay dịch bệnh này đã xuất hiện ở nhiều nước châu Âu, trong đó có Armenia Liên Bang Nga báo cáo bệnh này vào năm 2007 và Azerbaijan vào năm 20087; bệnh cũng được báo cáo tại các nước châu Mỹ.
– Đến nay, bệnh Dịch tả lợn châu Phi đã trở thành dịch địa phương ở nhiều nước trên thế giới.
– Từ cuối năm 2017 đến nay, 12 quốc gia (bao gồm: Trung Quốc, Liên bang Nga, Ba Lan, CH Séc, Hung – ga – ri, Lát – vi – a, Môn-đô-va, Phần Lan, Rô – ma – ni, Nam Phi, Ukraina và Zambia) báo cáo đã có dịch tả lợn châu Phi.

Đặc điểm của vi rút Dịch tả lợn châu Phi
Vi rút Dịch tả lợn châu Phi là vi rút có gen di truyền dạng ADN, có vẻ bọc dạng Icoxahedral, kích thước lớn, là Irido – vi rút và xếp vào họ Irido – virut và xếp vào họ Iridoviridae nhưng sau đó được phân loại vào chi mới chuyên biệt là chi Genus Asfi – vi rút thuộc họ Asfarviridae. Vi rút có 1 serotype, nhưng phát hiện có tới 16 gentotypes và nhiều chủng khác nhau có độc lực khác nhau.
Vi rút Dịch tả lợn châu Phi được tìm thấy trong máu, cơ quan, dịch bài tiết từ lợn nhiễm bệnh và chết bởi bệnh này. Lợn sau khi khỏi bệnh sẽ ở thế mãn tính có thể mang vi rút suốt đời. Ngoài ra, ve mềm thuộc chi Ornithodoros là một vector sinh học trong tự nhiên.


Vi rút Dịch tả lợn châu Phi có sức đề kháng cao, có thể tồn tại trong chất tiết, dịch tiết, trong xác động vật, trong thịt lợn và các chế phẩm từ thịt lợn như xúc xích, dăm bông, salami. Vi rút có khả năng chịu được nhiệt độ thấp, đặc biệt là trong các sản phẩm thịt lợn sống hoặc nấu ở nhiệt độ không cao nên vi rứt có thể chịu được trong thời gian dài từ 3 – 6 tháng; vi rút có thể bị tiêu diệt ở nhiệt độ 56º C trong 70 phút hoặc 60ºC trong 20 phút. Vi rút sống trong máu đã  phân hủy được 15 tuần; trong máu khô không được 70 ngày; trong phân ở nhiệt độ phòng được 11 ngày; trong máu lợn ở nhiệt độ 4 ºC trong 18 tháng; trong thịt dính xương ở nhiệt độ 39 ºC trong 150 ngày; trong giăm bông được 140 ngày và ở nhiệt độ 50ºC tồn tại trong 3 giờ.
Trong môi trường không có huyết thanh, vi rút có thể bị phá hủy ở pH<3,9 hoặc  pH>11,5. Môi trường huyết thanh vi rút có thể tồn tại được ở pH=13,4  trong 7 ngày; không có vi rút huyết thanh vi rút có thể sống được 21 giờ.
Hóa chất để diệt vi rút Dịch tả lợn châu Phi bao gồm: ether, chloroform và hợp chất iodine hoặc sử dụng Sodium hydroxide với tỉ lệ 8/1.000 hoặc formanlin với tỉ lệ 3/1.000 hoặc chất tẩy trắng hypocholorite chứa cholorine 2,3% hoặc orhotho-phenylphenol 3% nhưng phải duy trì thời gian 30 phút.

Quá trình gây bệnh và lây lan vi rút Dịch tả lợn châu Phi
– Bệnh dịch tả lợn châu Phi có thời gian ủ bệnh từ 3-15 ngày, ở thể cấp tính thời gian ủ bệnh từ 3-4 ngày.
– Vi rút Dịch tả lợn châu Phi lây nhiễm qua đường hô hấp và tiêu hóa thông qua sự tiếp xúc trực tiếp hoặc gián tiếp với các vật thể nhiễm vi rút như: chuồng trại, phương tiện vận chuyển, dụng cụ, đồ dùng, quần áo nhiễm vi rút và thức ăn thừa chứa thịt lợn nhiễm bệnh hoặc bị ve mềm cắn.

Triệu chứng, bệnh tích của bệnh Dịch tả lợn châu Phi
a, Bệnh tích
  • Thể cấp tính: Xuất huyết nhiều ở các hạch lympho ở dạ dày, gan và thận. Thận có thể xuất huyết điểm, lá lách có nhồi huyết. Da màu tối và phù nề, da vùng bụng và chân có xuất huyết. Có nhiều nước xung quanh tim và trong xoang ngực hoặc xoang bụng, có các điểm xuất huyết trên nắp thanh quản, bàng quang và bề mặt các cơ quan bên trong; phù nề trong cấu trúc hạch lâm ba của đại tràng và tiếp giáp với túi mật, túi sưng mật.
  • Thể mãn tính: Có thể gặp xơ cứng phổi hoặc có các ổ hoại tử hạch, hạch phổi sưng, viêm dính màng phổi.
b, Chẩn đoán lâm sàng
  • Lợn bị nhiễm Dịch tả lợn châu Phi có nhiều triệu chứng, tùy thuộc ào mức độ nghiêm trọng của bệnh. Lợn bệnh biểu hiện các triệu chứng không khác biệt so với triệu chứng của bệnh Dịch tả lợn cổ điển (đã và đang có tại Việt Nam). Do đó, việc chẩn đoán Dịch tả lợn châu Phi khó có thể xác định và phân biệt được bằng các triệu chứng lâm sàng; cần lấy mẫu mẫu gửi về phòng thí nghiệm để xét nghiệm phát hiện vi rút Dịch tả lợn châu Phi.
  • Thể quá cấp tính (Peracute) là do vi rút có độc lực cao, lợn sẽ chết nhanh, không biểu hiện triệu chứng hoặc lợn sẽ nằm và sốt cao trước khi chết.
  • Thể cấp tính (Acute) là do vi rút có độc lực cao gây ra, lợn sốt cao (40,5-42ºC). Trong 2-3 ngày đầu tiên, giảm bạch cầu và tiểu cầu. Lợn không ăn, lười vận động, ủ rũ, nằm chồng đống, lợn thích nằm ở chỗ có bóng râm hoặc gần nước. Lợn có biểu hiện đau vùng bụng, lưng cong, di chuyển bất thường, một số vùng da trắng chuyển sang màu đỏ, đặc biệt là vành tai, đuôi, cẳng chân, da phần dưới vùng ngực và bụng, có thể có màu sẫm xanh tím. Trong 1-2 ngày trước khi con vật chết, có triệu chứng thần kinh, di chuyển không vững, nhịp tim nhanh, thở gấp, khó thở hoặc có bọt lẫn ở mũi, viêm mắt, nôn mửa, tiêu chảy đôi khi lẫn máu hoặc có thể táo bón, phân cứng đóng viên có kích thước nhỏ, có chất nhầy và máu. Lợn sẽ chết trong vòng 6-13 ngày hoặc 20 ngày. Lợn mang thai có thể sẩy thai ở mọi giai đoạn. Tỷ lệ chết cao lên tới 100%. Lợn khỏi bênh hoặc nhiễm vi rút thể mãn tính thường không có triệu chứng, nhưng chúng sẽ là vật chủ mang vi rút Dịch tả lợn suốt cuộc đời.
  • Thể á cấp tính (Subacute) gây ra mới vi rút có độc tính trung bình. CHủ yếu được tìm thấy ở châu Âu, lợn biểu hiện triệu chứng không nghiệm trọng. Lợn sốt nhẹ hoặc sốt lúc tăng lúc giảm, giảm ăn, sụt cân, ủ rũ, viêm toàn bộ phổi nên khó thở, ho có đờm, phổi có thể bị bội nhiễm vi khuẩn kế phát, viêm khớp, vận động khó khăn. Bệnh kéo dài từ 5-30 ngày, nếu máu ứ trong tim (Cấp tính hoặc suy tim) thì lợn có thể chết, lợn mang thai sẽ sảy thai, lợn chết trong vòng 15-45 ngày, tỉ lệ chết khoảng 30-70%. Lợn có thể khỏi hoặc bị nhiễm bệnh mãn tính.
  • Thể mãn tính (Choronic form) gây ra bởi vi rút có độc tính trung bình hoặc thấp, chủ yếu được tìm thấy ở Angola và châu Âu. Lợn có triệu chứng khác nhau, chẳng hạn như giảm cân, sốt không ổn định, có triệu chứng hô hấp, hoại tử da, hoặc viêm loét da mãn tính, viêm khớp, viêm cơ tim, viêm phổi dính sườn, viêm các khớp khác nhau trong giai đoạn phát triển. Triệu chứng kéo dài 2-15 tháng, có tỷ lệ tử vong thấp, lợn khỏi bệnh sau khi nhiễm vi rút gây nên bệnh sẽ trở thành mãn tính.

Chẩn đoán bệnh Dịch tả lợn châu Phi
a, Chẩn đoán phân biệt
  • Dịch tả lợn châu Phi và Dịch tả lợn cố điển khó có thể chẩn đoán phân biệt nếu dựa vào các triệu chứng lâm sàng và dịch bệnh. Vì vậy, trong mọi trường hợp, phải lấy mẫu xét nghiệm tại phòng thí nghiệm để xét nghiệm phát hiện mầm bệnh.
  • Các bệnh khác cần được chẩn đoán phân biệt với bệnh Dịch tả lợn châu Phi bao gồm các bệnh: Bệnh tai xanh (PRRS), đặc biệt là thể cấp tính, bệnh đóng dấu lợn, bệnh Phó thương hàn, bệnh Tụ huyết trùng, bệnh liên cầu khuẩn do Streptococcus suis, bệnh Glasser, bệnh ký sinh trùng đườngn máu do Tryphanosoma gây ra, Hội chứng viêm da sưng thận do PCV2, bệnh giả dại ở lợn choai và bị ngộ độc muối.
b, Xét nghiệm phát hiện vi rút gây bệnh Dịch tả lợn châu Phi
  • Sử dụng tế bào monocytes sơ cấp của lợn hoặc tế bào tủy xương, phần lớn vi rút Dịch tả lợn châu Phi phân lập được sẽ sinh ra Haemadsorption.
  • Phát hiện kháng nguyên bằng phương pháp Flourenscen antibody test (FAT) kết quả dương tính của FAT cùng với các triệu chứng và các tổn thương có thể sơ bộ xác định bệnh Dịch tả lợn châu Phi.
  • Phương pháp PCR: Là kỹ thuật cần thiết đối với việc xét nghiệm các mẫu lợn nghi bị nhiễm vi rút Dịch tả lợn châu Phi.
  • Tiêm động vật thí nghiệm: Hiện không được khuyến cáo sử dụng phương pháp này vì nguy cơ lây lan dịch bệnh cao.
  • Kiểm tra huyết thanh bệnh Dịch tả lợn châu Phi bằng kỹ thuật ELISA (Enzyme – linked immunosobent assay) hoặc IFA ( Indrect flourescent antibody – IFA).
c, Lấy mẫu xét nghiệm
  • Lấy mẫu máu đang sốt trong giai đoạn đầu, máu được chống đông bằng bổ sung EDTA 0,5% hoặc Heparin.
  • Lách, các hạch bạch huyết, hạch amidan bảo quản ở nhiệt độ 4ºC.
  • Huyết thanh từ động vật khỏi bệnh, lấy mẫu trong vòng 8-21 ngày sau khi lợn nhiễm bệnh.
Hiện nay chưa có vắc xin và thuốc điều trị được Dịch tả lợn châu Phi, vì vậy giải pháp phòng bệnh là chính, phát hiện và xử lí triệt để ổ dịch ngay từ khi ở phạm vi nhỏ và chưa lây lan; Kiểm soát dịch bệnh nhập khẩu, kiểm soát vận chuyển lợn và chăn nuôi an toàn sinh học là các biện pháp chủ lực được các nước đã và đang áp dụng

DKT Biotech-VET- Các thông tin cơ bản về dịch tả lợn châu Phi

Đặc điểm chung của Dịch tả lợn châu Phi
Dịch tả lợn châu Phi (tên tiếng Anh là African swine fever – ASF) là bệnh truyền nhiễm xảy ra do vi rút gây ra. Bệnh có đặc điểm lây lan nhanh và xảy ra ở mọi loài lợn và lợn hoang dã; bệnh xảy ra ở mọi lứa tuổi và mọi loại lợn. Bệnh gây thiệt hại nghiêm trọng với tỷ lệ chết cao lên đến 100%. Vi rút gây ra bệnh Dịch tả lợn châu Phi (ASFV) có sức đề kháng cao trong môi trường. Lợn khỏi bệnh có khả năng mang vi rút trong thời gian dài, có thể là vật chủ mang trùng suốt đời, do vậy khó có thể loại trừ được bệnh nếu để xảy ra bệnh Dịch tả lợn châu Phi.

Phân bố của Dịch tả lợn châu Phi
– Năm 1921, bệnh Dịch tả lợn châu Phi lần đầu xuất hiện tại Kenya, châu Phi, sau đó đã trở thành dịch địa phương tại nhiều nước châu Phi.
– Năm 1957, lần đầu tiên bệnh Dịch tả lợn châu Phi được phát hiện và báo cáo tại châu Âu và đến nay dịch bệnh này đã xuất hiện ở nhiều nước châu Âu, trong đó có Armenia Liên Bang Nga báo cáo bệnh này vào năm 2007 và Azerbaijan vào năm 20087; bệnh cũng được báo cáo tại các nước châu Mỹ.
– Đến nay, bệnh Dịch tả lợn châu Phi đã trở thành dịch địa phương ở nhiều nước trên thế giới.
– Từ cuối năm 2017 đến nay, 12 quốc gia (bao gồm: Trung Quốc, Liên bang Nga, Ba Lan, CH Séc, Hung – ga – ri, Lát – vi – a, Môn-đô-va, Phần Lan, Rô – ma – ni, Nam Phi, Ukraina và Zambia) báo cáo đã có dịch tả lợn châu Phi.

Đặc điểm của vi rút Dịch tả lợn châu Phi
Vi rút Dịch tả lợn châu Phi là vi rút có gen di truyền dạng ADN, có vẻ bọc dạng Icoxahedral, kích thước lớn, là Irido – vi rút và xếp vào họ Irido – virut và xếp vào họ Iridoviridae nhưng sau đó được phân loại vào chi mới chuyên biệt là chi Genus Asfi – vi rút thuộc họ Asfarviridae. Vi rút có 1 serotype, nhưng phát hiện có tới 16 gentotypes và nhiều chủng khác nhau có độc lực khác nhau.
Vi rút Dịch tả lợn châu Phi được tìm thấy trong máu, cơ quan, dịch bài tiết từ lợn nhiễm bệnh và chết bởi bệnh này. Lợn sau khi khỏi bệnh sẽ ở thế mãn tính có thể mang vi rút suốt đời. Ngoài ra, ve mềm thuộc chi Ornithodoros là một vector sinh học trong tự nhiên.


Vi rút Dịch tả lợn châu Phi có sức đề kháng cao, có thể tồn tại trong chất tiết, dịch tiết, trong xác động vật, trong thịt lợn và các chế phẩm từ thịt lợn như xúc xích, dăm bông, salami. Vi rút có khả năng chịu được nhiệt độ thấp, đặc biệt là trong các sản phẩm thịt lợn sống hoặc nấu ở nhiệt độ không cao nên vi rứt có thể chịu được trong thời gian dài từ 3 – 6 tháng; vi rút có thể bị tiêu diệt ở nhiệt độ 56º C trong 70 phút hoặc 60ºC trong 20 phút. Vi rút sống trong máu đã  phân hủy được 15 tuần; trong máu khô không được 70 ngày; trong phân ở nhiệt độ phòng được 11 ngày; trong máu lợn ở nhiệt độ 4 ºC trong 18 tháng; trong thịt dính xương ở nhiệt độ 39 ºC trong 150 ngày; trong giăm bông được 140 ngày và ở nhiệt độ 50ºC tồn tại trong 3 giờ.
Trong môi trường không có huyết thanh, vi rút có thể bị phá hủy ở pH<3,9 hoặc  pH>11,5. Môi trường huyết thanh vi rút có thể tồn tại được ở pH=13,4  trong 7 ngày; không có vi rút huyết thanh vi rút có thể sống được 21 giờ.
Hóa chất để diệt vi rút Dịch tả lợn châu Phi bao gồm: ether, chloroform và hợp chất iodine hoặc sử dụng Sodium hydroxide với tỉ lệ 8/1.000 hoặc formanlin với tỉ lệ 3/1.000 hoặc chất tẩy trắng hypocholorite chứa cholorine 2,3% hoặc orhotho-phenylphenol 3% nhưng phải duy trì thời gian 30 phút.

Quá trình gây bệnh và lây lan vi rút Dịch tả lợn châu Phi
– Bệnh dịch tả lợn châu Phi có thời gian ủ bệnh từ 3-15 ngày, ở thể cấp tính thời gian ủ bệnh từ 3-4 ngày.
– Vi rút Dịch tả lợn châu Phi lây nhiễm qua đường hô hấp và tiêu hóa thông qua sự tiếp xúc trực tiếp hoặc gián tiếp với các vật thể nhiễm vi rút như: chuồng trại, phương tiện vận chuyển, dụng cụ, đồ dùng, quần áo nhiễm vi rút và thức ăn thừa chứa thịt lợn nhiễm bệnh hoặc bị ve mềm cắn.

Triệu chứng, bệnh tích của bệnh Dịch tả lợn châu Phi
a, Bệnh tích
  • Thể cấp tính: Xuất huyết nhiều ở các hạch lympho ở dạ dày, gan và thận. Thận có thể xuất huyết điểm, lá lách có nhồi huyết. Da màu tối và phù nề, da vùng bụng và chân có xuất huyết. Có nhiều nước xung quanh tim và trong xoang ngực hoặc xoang bụng, có các điểm xuất huyết trên nắp thanh quản, bàng quang và bề mặt các cơ quan bên trong; phù nề trong cấu trúc hạch lâm ba của đại tràng và tiếp giáp với túi mật, túi sưng mật.
  • Thể mãn tính: Có thể gặp xơ cứng phổi hoặc có các ổ hoại tử hạch, hạch phổi sưng, viêm dính màng phổi.
b, Chẩn đoán lâm sàng
  • Lợn bị nhiễm Dịch tả lợn châu Phi có nhiều triệu chứng, tùy thuộc ào mức độ nghiêm trọng của bệnh. Lợn bệnh biểu hiện các triệu chứng không khác biệt so với triệu chứng của bệnh Dịch tả lợn cổ điển (đã và đang có tại Việt Nam). Do đó, việc chẩn đoán Dịch tả lợn châu Phi khó có thể xác định và phân biệt được bằng các triệu chứng lâm sàng; cần lấy mẫu mẫu gửi về phòng thí nghiệm để xét nghiệm phát hiện vi rút Dịch tả lợn châu Phi.
  • Thể quá cấp tính (Peracute) là do vi rút có độc lực cao, lợn sẽ chết nhanh, không biểu hiện triệu chứng hoặc lợn sẽ nằm và sốt cao trước khi chết.
  • Thể cấp tính (Acute) là do vi rút có độc lực cao gây ra, lợn sốt cao (40,5-42ºC). Trong 2-3 ngày đầu tiên, giảm bạch cầu và tiểu cầu. Lợn không ăn, lười vận động, ủ rũ, nằm chồng đống, lợn thích nằm ở chỗ có bóng râm hoặc gần nước. Lợn có biểu hiện đau vùng bụng, lưng cong, di chuyển bất thường, một số vùng da trắng chuyển sang màu đỏ, đặc biệt là vành tai, đuôi, cẳng chân, da phần dưới vùng ngực và bụng, có thể có màu sẫm xanh tím. Trong 1-2 ngày trước khi con vật chết, có triệu chứng thần kinh, di chuyển không vững, nhịp tim nhanh, thở gấp, khó thở hoặc có bọt lẫn ở mũi, viêm mắt, nôn mửa, tiêu chảy đôi khi lẫn máu hoặc có thể táo bón, phân cứng đóng viên có kích thước nhỏ, có chất nhầy và máu. Lợn sẽ chết trong vòng 6-13 ngày hoặc 20 ngày. Lợn mang thai có thể sẩy thai ở mọi giai đoạn. Tỷ lệ chết cao lên tới 100%. Lợn khỏi bênh hoặc nhiễm vi rút thể mãn tính thường không có triệu chứng, nhưng chúng sẽ là vật chủ mang vi rút Dịch tả lợn suốt cuộc đời.
  • Thể á cấp tính (Subacute) gây ra mới vi rút có độc tính trung bình. CHủ yếu được tìm thấy ở châu Âu, lợn biểu hiện triệu chứng không nghiệm trọng. Lợn sốt nhẹ hoặc sốt lúc tăng lúc giảm, giảm ăn, sụt cân, ủ rũ, viêm toàn bộ phổi nên khó thở, ho có đờm, phổi có thể bị bội nhiễm vi khuẩn kế phát, viêm khớp, vận động khó khăn. Bệnh kéo dài từ 5-30 ngày, nếu máu ứ trong tim (Cấp tính hoặc suy tim) thì lợn có thể chết, lợn mang thai sẽ sảy thai, lợn chết trong vòng 15-45 ngày, tỉ lệ chết khoảng 30-70%. Lợn có thể khỏi hoặc bị nhiễm bệnh mãn tính.
  • Thể mãn tính (Choronic form) gây ra bởi vi rút có độc tính trung bình hoặc thấp, chủ yếu được tìm thấy ở Angola và châu Âu. Lợn có triệu chứng khác nhau, chẳng hạn như giảm cân, sốt không ổn định, có triệu chứng hô hấp, hoại tử da, hoặc viêm loét da mãn tính, viêm khớp, viêm cơ tim, viêm phổi dính sườn, viêm các khớp khác nhau trong giai đoạn phát triển. Triệu chứng kéo dài 2-15 tháng, có tỷ lệ tử vong thấp, lợn khỏi bệnh sau khi nhiễm vi rút gây nên bệnh sẽ trở thành mãn tính.

Chẩn đoán bệnh Dịch tả lợn châu Phi
a, Chẩn đoán phân biệt
  • Dịch tả lợn châu Phi và Dịch tả lợn cố điển khó có thể chẩn đoán phân biệt nếu dựa vào các triệu chứng lâm sàng và dịch bệnh. Vì vậy, trong mọi trường hợp, phải lấy mẫu xét nghiệm tại phòng thí nghiệm để xét nghiệm phát hiện mầm bệnh.
  • Các bệnh khác cần được chẩn đoán phân biệt với bệnh Dịch tả lợn châu Phi bao gồm các bệnh: Bệnh tai xanh (PRRS), đặc biệt là thể cấp tính, bệnh đóng dấu lợn, bệnh Phó thương hàn, bệnh Tụ huyết trùng, bệnh liên cầu khuẩn do Streptococcus suis, bệnh Glasser, bệnh ký sinh trùng đườngn máu do Tryphanosoma gây ra, Hội chứng viêm da sưng thận do PCV2, bệnh giả dại ở lợn choai và bị ngộ độc muối.
b, Xét nghiệm phát hiện vi rút gây bệnh Dịch tả lợn châu Phi
  • Sử dụng tế bào monocytes sơ cấp của lợn hoặc tế bào tủy xương, phần lớn vi rút Dịch tả lợn châu Phi phân lập được sẽ sinh ra Haemadsorption.
  • Phát hiện kháng nguyên bằng phương pháp Flourenscen antibody test (FAT) kết quả dương tính của FAT cùng với các triệu chứng và các tổn thương có thể sơ bộ xác định bệnh Dịch tả lợn châu Phi.
  • Phương pháp PCR: Là kỹ thuật cần thiết đối với việc xét nghiệm các mẫu lợn nghi bị nhiễm vi rút Dịch tả lợn châu Phi.
  • Tiêm động vật thí nghiệm: Hiện không được khuyến cáo sử dụng phương pháp này vì nguy cơ lây lan dịch bệnh cao.
  • Kiểm tra huyết thanh bệnh Dịch tả lợn châu Phi bằng kỹ thuật ELISA (Enzyme – linked immunosobent assay) hoặc IFA ( Indrect flourescent antibody – IFA).
c, Lấy mẫu xét nghiệm
  • Lấy mẫu máu đang sốt trong giai đoạn đầu, máu được chống đông bằng bổ sung EDTA 0,5% hoặc Heparin.
  • Lách, các hạch bạch huyết, hạch amidan bảo quản ở nhiệt độ 4ºC.
  • Huyết thanh từ động vật khỏi bệnh, lấy mẫu trong vòng 8-21 ngày sau khi lợn nhiễm bệnh.
Hiện nay chưa có vắc xin và thuốc điều trị được Dịch tả lợn châu Phi, vì vậy giải pháp phòng bệnh là chính, phát hiện và xử lí triệt để ổ dịch ngay từ khi ở phạm vi nhỏ và chưa lây lan; Kiểm soát dịch bệnh nhập khẩu, kiểm soát vận chuyển lợn và chăn nuôi an toàn sinh học là các biện pháp chủ lực được các nước đã và đang áp dụng
Đọc thêm
1. Cơ chế gây bệnh Leuco trên gà
Vi rút xâm nhập vào cơ thể hoặc có sẵn trong cơ thể gà sẽ nhân lên nhanh chóng, tấn công vào các tế bào limpho đồng thời tấn công vào túi fabricius, gây giảm miễn dịch và hình thành các khối u.
Sự nhân lên của vi rút xảy ra trong các tuyến tiết ra anbumin của ống dẫn trứng vì vậy bệnh truyền theo chiều dọc từ thế hệ này sang thế hệ khác. Gà trống không trực tiếp gây nhiễm bệnh bẩm sinh cho gà con nhưng gián tiếp là vật mang vi rút và là nguồn lây nhiễm bệnh cho các con gà mái khỏe khác.
Một số trường hợp, gà mắc bệnh không xuất hiện khối u và không gây chết nhưng giảm khả năng sinh trưởng và phát triển, đồng thời rất nguy hiểm vì là vật mang trùng, truyền bệnh qua trứng sang gà con và bài thải mầm bệnh ra môi trường làm lân lan dịch bệnh.
Gà mắc bệnh tăng tính mẫn cảm đối với các bệnh truyền nhiễm khác do tổn hại hệ thống miễn dịch.

2. Nguyên nhân, đường truyền lây bệnh
Bệnh Leuco (Lymphoid - Leucosis) là bệnh truyền nhiễm ở gà gây ra bởi vi rút leuco.
Bệnh phát ra trên gà từ 14 tuần tuổi trở lên, thường gặp nhất ở gà 24 - 40 tuần tuổi ở những đàn gà có số lượng lớn.
Đường truyền lây bệnh chủ yếu là qua trứng, vi rút từ gà mẹ truyền qua trứng tới gà con; đồng thời gà khỏe lây bệnh từ gà bị bệnh hoặc qua môi trường, dụng cụ ấp nở, dụng cụ chăn nuôi, vắc xin nhiễm mầm bệnh.

3. Triệu chứng của gà mắc bệnh Lueco
Gà mắc bệnh có các biểu hiện như kém ăn, gầy nhanh, ủ rũ, tiêu chảy, mào tích nhợt nhạt, tỷ lệ gà chết cao. Có thể kế phát các bệnh truyền nhiễm khác.
Ở gà đẻ, tỷ lệ đẻ giảm rõ rệt.
4. Bệnh tích
Thể trạng gà bệnh gầy, nhợt nhạt. Hiện tượng tăng sinh tế bào tạo u cục ở nhiều cơ quan nội tạng của gà bệnh, đầu tiên xuất hiện ở túi fabricius sau đó ở gan, lách, thận, màng treo ruột, tim và buồng trứng.
Xuất huyết nội do vỡ các khối u trên cơ quan nội tạng như gan, lách, thận…, hoặc xuất huyết ngoài da, có thể rụng lông ống, do máu khó đông dẫn đến mất máu rất nhiều và gây chết gà. 
5. Chẩn đoán bệnh
* Dựa vào các triệu chứng, bệnh tích điển hình của gà bệnh như kém ăn, gầy nhanh, ủ rũ, tiêu chảy, mào tích nhợt nhạt; máu loãng khó đông; khi mổ khám thấy u cục ở túi fabricius, gan, lách, thận, màng treo ruột, tim và buồng trứng…
* Chẩn đoán phân biệt với một số bệnh ở gà như:
- Với bệnh ký sinh trùng đường máu ở gà
- Với bệnh Marek
* Để chẩn đoán chính xác, cần xét nghiệm tế bào: Tìm các tế bào ung thư ở túi fabricius, gan, lách, thận, tim, màng treo ruột và buồng trứng.

6. Điều trị
Bệnh do vi rút gây nên, không có thuốc điều trị.

Mua gà giống từ cơ sở chăn nuôi an toàn với các bệnh truyền nhiễm trong đó có bệnh Leuco.
Tăng cường công tác vệ sinh trong ấp nở trứng gà, không ấp nở trứng của đàn gà bị bệnh; vệ sinh, khử trùng máy ấp nở và dụng cụ ấp nở.
Đảm bảo vệ sinh trong chăn nuôi, thực hiện trống chuồng sau mỗi lứa nuôi, vệ sinh, khử trùng chuồng trại và dụng cụ, thiết bị chăn nuôi.
Sớm phát hiện đàn gà mắc bệnh để cách ly và xử lý kịp thời, hạn chế phát tán mầm bệnh ra môi trường và lây lan bệnh qua ấp nở hoặc chăn nuôi.

DKT Biotech-VET- Nhận biết và phòng trị bệnh Leuco ở gà

1. Cơ chế gây bệnh Leuco trên gà
Vi rút xâm nhập vào cơ thể hoặc có sẵn trong cơ thể gà sẽ nhân lên nhanh chóng, tấn công vào các tế bào limpho đồng thời tấn công vào túi fabricius, gây giảm miễn dịch và hình thành các khối u.
Sự nhân lên của vi rút xảy ra trong các tuyến tiết ra anbumin của ống dẫn trứng vì vậy bệnh truyền theo chiều dọc từ thế hệ này sang thế hệ khác. Gà trống không trực tiếp gây nhiễm bệnh bẩm sinh cho gà con nhưng gián tiếp là vật mang vi rút và là nguồn lây nhiễm bệnh cho các con gà mái khỏe khác.
Một số trường hợp, gà mắc bệnh không xuất hiện khối u và không gây chết nhưng giảm khả năng sinh trưởng và phát triển, đồng thời rất nguy hiểm vì là vật mang trùng, truyền bệnh qua trứng sang gà con và bài thải mầm bệnh ra môi trường làm lân lan dịch bệnh.
Gà mắc bệnh tăng tính mẫn cảm đối với các bệnh truyền nhiễm khác do tổn hại hệ thống miễn dịch.

2. Nguyên nhân, đường truyền lây bệnh
Bệnh Leuco (Lymphoid - Leucosis) là bệnh truyền nhiễm ở gà gây ra bởi vi rút leuco.
Bệnh phát ra trên gà từ 14 tuần tuổi trở lên, thường gặp nhất ở gà 24 - 40 tuần tuổi ở những đàn gà có số lượng lớn.
Đường truyền lây bệnh chủ yếu là qua trứng, vi rút từ gà mẹ truyền qua trứng tới gà con; đồng thời gà khỏe lây bệnh từ gà bị bệnh hoặc qua môi trường, dụng cụ ấp nở, dụng cụ chăn nuôi, vắc xin nhiễm mầm bệnh.

3. Triệu chứng của gà mắc bệnh Lueco
Gà mắc bệnh có các biểu hiện như kém ăn, gầy nhanh, ủ rũ, tiêu chảy, mào tích nhợt nhạt, tỷ lệ gà chết cao. Có thể kế phát các bệnh truyền nhiễm khác.
Ở gà đẻ, tỷ lệ đẻ giảm rõ rệt.
4. Bệnh tích
Thể trạng gà bệnh gầy, nhợt nhạt. Hiện tượng tăng sinh tế bào tạo u cục ở nhiều cơ quan nội tạng của gà bệnh, đầu tiên xuất hiện ở túi fabricius sau đó ở gan, lách, thận, màng treo ruột, tim và buồng trứng.
Xuất huyết nội do vỡ các khối u trên cơ quan nội tạng như gan, lách, thận…, hoặc xuất huyết ngoài da, có thể rụng lông ống, do máu khó đông dẫn đến mất máu rất nhiều và gây chết gà. 
5. Chẩn đoán bệnh
* Dựa vào các triệu chứng, bệnh tích điển hình của gà bệnh như kém ăn, gầy nhanh, ủ rũ, tiêu chảy, mào tích nhợt nhạt; máu loãng khó đông; khi mổ khám thấy u cục ở túi fabricius, gan, lách, thận, màng treo ruột, tim và buồng trứng…
* Chẩn đoán phân biệt với một số bệnh ở gà như:
- Với bệnh ký sinh trùng đường máu ở gà
- Với bệnh Marek
* Để chẩn đoán chính xác, cần xét nghiệm tế bào: Tìm các tế bào ung thư ở túi fabricius, gan, lách, thận, tim, màng treo ruột và buồng trứng.

6. Điều trị
Bệnh do vi rút gây nên, không có thuốc điều trị.

Mua gà giống từ cơ sở chăn nuôi an toàn với các bệnh truyền nhiễm trong đó có bệnh Leuco.
Tăng cường công tác vệ sinh trong ấp nở trứng gà, không ấp nở trứng của đàn gà bị bệnh; vệ sinh, khử trùng máy ấp nở và dụng cụ ấp nở.
Đảm bảo vệ sinh trong chăn nuôi, thực hiện trống chuồng sau mỗi lứa nuôi, vệ sinh, khử trùng chuồng trại và dụng cụ, thiết bị chăn nuôi.
Sớm phát hiện đàn gà mắc bệnh để cách ly và xử lý kịp thời, hạn chế phát tán mầm bệnh ra môi trường và lây lan bệnh qua ấp nở hoặc chăn nuôi.
Đọc thêm
Do gia súc ăn nhiều cỏ non hoặc cây họ đậu, thức ăn nhiều chất nhày như rau lang, rau muống non… đã lên men sinh hơi nhanh, gia súc không kịp thoát hơi gây chướng căng dạ cỏ. Đặc biệt, vào mùa khô, gia súc ăn nhiều thức ăn khô như rơm, cỏ khô, nên hệ vi sinh vật dạ cỏ thích nghi với tiêu hóa nhiều thức ăn khô, đến đầu mùa mưa, gia súc ăn nhiều cỏ non đột ngột sẽ gây bệnh.
Có thể kế phát từ bệnh liệt dạ cỏ, bội thực, tắc thực quản, viêm họng làm gia súc không ợ hơi được, viêm màng bụng…
Triệu chứng bệnh chướng hơi dạ cỏ ở trâu bò
Bệnh xảy ra rất nhanh, gia súc khó chịu, bồn chồn, bụng chướng căng, mất hõm hông bên trái, có thể cao hơn cột sống. Gõ vào bụng có âm trống.
Gia súc hay quay đầu về phía sau, có cảm giác đau đớn
Gia súc thở rất khó, dạng hai chân trước, hô hấp tăng, tim đập nhanh, tĩnh mạnh cổ phồng to, niêm mạc mắt, mũi, hậu môn xung huyết, sau đó tím bầm.

Trước tiên, cho gia súc nhịn ăn, đứng 2 chân trước lên cao hoặc đi lên dốc để dạ cỏ không chèn ép phổi và tim.
Sau đó, cho gia súc uống 1 trong các loại dung dịch:
+ Dung dịch MgSO4 với liều 50-100g/con hòa với 0,5 – 1 lít nước.
+ Nước dưa chua: 0,5 – 1 lít.
+ Bia hơi: 0,5-2 lít.
Đồng thời, xoa bóp vùng dạ cỏ để kích thích ợ hơi. Có thể giã gừng tẩm vào rơm, vải thô, chà sát liên tục 30 – 60 phút ở hông bên trái. Làm như vậy nhiều lần nhằm tăng nhu động dạ cỏ.
Nắm lưỡi gia súc kéo nhịp nhàng lệch về một bên nhiều lần để kích thích ợ hơi.
Có thể dùng ống mềm (bằng cao su hoặc nhựa mềm) thông qua thực quản vào dạ cỏ, đồng thời dùng tay ấn mạnh vào hõm hông trái để hơi thoát ra ngoài. Moi phân ở trực tràng ra để thoát hơi.
Tăng cường nhu động dạ cỏ bằng cách tiêm Pilocarpine (đối với bệnh chướng hơi kế phát sau bệnh liệt dạ cỏ); tiêm thuốc trợ sức, trợ lực, liều theo hướng dẫn của hãng thuốc.
* Nếu dùng các biện pháp trên không hiệu quả, dạ cỏ vẫn chướng căng, nguy hiểm đến tính mạng gia súc thì phải cấp cứu bằng cách chọc troca.
– Sát trùng vị trí giữa hõm hông trái của gia súc, chọc mạnh troca qua thành bụng, rút lõi từ từ, bịt đầu thoát của troca để hơi thoát từ từ, nếu cho hơi thoát nhanh thì áp lực máu ở não bị giảm đột ngột, gia súc bị sốc có thể chết.
– Giữ troca cho hơi ra hết, để gia súc khỏe lại, khi rút troca phải cho lõi vào, để thức ăn không tiếp xúc vết thương gây viêm phúc mạc.
– Dùng một trong các loại kháng sinh sau để chống nhiễm trùng như Gentamycin, Ampicillin, Penicillin, Cefamicin tiêm hoặc bơm thẳng vào dạ cỏ. Liều dùng theo hướng dẫn sử dụng của hãng thuốc.

Phòng bệnh chướng hơi dạ cỏ ở trâu bò
Không cho gia súc ăn quá nhiều cỏ non hoặc cây họ đậu, thức ăn nhiều chất nhày như rau lang, rau muống non, thức ăn dễ lên men, sinh hơi khác.
Khi thay đổi thức ăn nên thay đổi từ từ để gia súc kịp thích nghi, không bị rối loạn tiêu hóa.
Khi gia súc mắc bệnh liệt dạ cỏ, bội thực, tắc thực quản, viêm họng làm gia súc không ợ hơi được, viêm màng bụng… cần kịp thời điều trị để tránh kế phát bệnh chướng hơi dạ cỏ.

DKT Biotech-VET- Nguyên nhân và cách phòng trị bệnh chướng hơi dạ cỏ ở trâu bò

Do gia súc ăn nhiều cỏ non hoặc cây họ đậu, thức ăn nhiều chất nhày như rau lang, rau muống non… đã lên men sinh hơi nhanh, gia súc không kịp thoát hơi gây chướng căng dạ cỏ. Đặc biệt, vào mùa khô, gia súc ăn nhiều thức ăn khô như rơm, cỏ khô, nên hệ vi sinh vật dạ cỏ thích nghi với tiêu hóa nhiều thức ăn khô, đến đầu mùa mưa, gia súc ăn nhiều cỏ non đột ngột sẽ gây bệnh.
Có thể kế phát từ bệnh liệt dạ cỏ, bội thực, tắc thực quản, viêm họng làm gia súc không ợ hơi được, viêm màng bụng…
Triệu chứng bệnh chướng hơi dạ cỏ ở trâu bò
Bệnh xảy ra rất nhanh, gia súc khó chịu, bồn chồn, bụng chướng căng, mất hõm hông bên trái, có thể cao hơn cột sống. Gõ vào bụng có âm trống.
Gia súc hay quay đầu về phía sau, có cảm giác đau đớn
Gia súc thở rất khó, dạng hai chân trước, hô hấp tăng, tim đập nhanh, tĩnh mạnh cổ phồng to, niêm mạc mắt, mũi, hậu môn xung huyết, sau đó tím bầm.

Trước tiên, cho gia súc nhịn ăn, đứng 2 chân trước lên cao hoặc đi lên dốc để dạ cỏ không chèn ép phổi và tim.
Sau đó, cho gia súc uống 1 trong các loại dung dịch:
+ Dung dịch MgSO4 với liều 50-100g/con hòa với 0,5 – 1 lít nước.
+ Nước dưa chua: 0,5 – 1 lít.
+ Bia hơi: 0,5-2 lít.
Đồng thời, xoa bóp vùng dạ cỏ để kích thích ợ hơi. Có thể giã gừng tẩm vào rơm, vải thô, chà sát liên tục 30 – 60 phút ở hông bên trái. Làm như vậy nhiều lần nhằm tăng nhu động dạ cỏ.
Nắm lưỡi gia súc kéo nhịp nhàng lệch về một bên nhiều lần để kích thích ợ hơi.
Có thể dùng ống mềm (bằng cao su hoặc nhựa mềm) thông qua thực quản vào dạ cỏ, đồng thời dùng tay ấn mạnh vào hõm hông trái để hơi thoát ra ngoài. Moi phân ở trực tràng ra để thoát hơi.
Tăng cường nhu động dạ cỏ bằng cách tiêm Pilocarpine (đối với bệnh chướng hơi kế phát sau bệnh liệt dạ cỏ); tiêm thuốc trợ sức, trợ lực, liều theo hướng dẫn của hãng thuốc.
* Nếu dùng các biện pháp trên không hiệu quả, dạ cỏ vẫn chướng căng, nguy hiểm đến tính mạng gia súc thì phải cấp cứu bằng cách chọc troca.
– Sát trùng vị trí giữa hõm hông trái của gia súc, chọc mạnh troca qua thành bụng, rút lõi từ từ, bịt đầu thoát của troca để hơi thoát từ từ, nếu cho hơi thoát nhanh thì áp lực máu ở não bị giảm đột ngột, gia súc bị sốc có thể chết.
– Giữ troca cho hơi ra hết, để gia súc khỏe lại, khi rút troca phải cho lõi vào, để thức ăn không tiếp xúc vết thương gây viêm phúc mạc.
– Dùng một trong các loại kháng sinh sau để chống nhiễm trùng như Gentamycin, Ampicillin, Penicillin, Cefamicin tiêm hoặc bơm thẳng vào dạ cỏ. Liều dùng theo hướng dẫn sử dụng của hãng thuốc.

Phòng bệnh chướng hơi dạ cỏ ở trâu bò
Không cho gia súc ăn quá nhiều cỏ non hoặc cây họ đậu, thức ăn nhiều chất nhày như rau lang, rau muống non, thức ăn dễ lên men, sinh hơi khác.
Khi thay đổi thức ăn nên thay đổi từ từ để gia súc kịp thích nghi, không bị rối loạn tiêu hóa.
Khi gia súc mắc bệnh liệt dạ cỏ, bội thực, tắc thực quản, viêm họng làm gia súc không ợ hơi được, viêm màng bụng… cần kịp thời điều trị để tránh kế phát bệnh chướng hơi dạ cỏ.
Đọc thêm
Nguyên nhân và con đường lây lan bệnh Newcastle trên gà
Nguyên nhân: Là bệnh do virus nhóm Paramyxo gây ra ở tất cả các lứa tuổi và tất cả các giống gà. Tỉ lệ lây lan cao có thể lên đến 100% đàn gà và cũng có tỉ lệ chết cao. Bệnh Newcastle còn xảy ra cả trên bồ câu, vịt, gà tây, gà sao, chim cút, ngan...
Con đường lây lan: Lây lan trực tiếp qua tiếp xúc như qua người, chuột, chim trời mang virus. Qua không khí, qua thức ăn, nước uống, từ gà bệnh sang gà khỏe với tốc độ lây lan rất nhanh.
Virus Newcastle có thể tồn tại thời gian dài (năm này qua năm khác) ở điều khiện môi trường mát, nhưng cũng dễ bị diệt bởi các thuốc sát trùng thông dụng.

Triệu trứng và bệnh tích của bệnh Newcastle trêu gà
Bệnh tích
Khi mổ gà chết để kiểm tra thấy xuất huyết các cơ quan như tiêu hóa và hô. Dạ dày tuyến xuất huyết ở đỉnh lỗ tuyến. Ruột viêm loét, nỏi gồ hình cúc áo. Trực tràng, hậu môn xuất huyết. Thanh khí quản xuất huyết, phổi viêm túi khí đục.

Triệu trứng bệnh Newcastle trên gà
Thời gian ủ bệnh của bệnh Newcastle từ 5-12 ngày nhưng thường thường là 5 ngày. Bệnh được chia làm 3 thể là quá cấp tính, cấp tính và mãn tính. Với mỗi thể thì có một triệu trứng khác nhau.
Thể quá cấp tính: Gà ủ rũ và chết sau vài giờ, bệnh tiến triển rất nhanh, khó nhận ra triệu trứng của bệnh. Thường xảy ra vào đầu ổ dịch
Thể cấp tính: Ở thể cấp tính các biểu hiện, triệu trứng của bệnh rõ ràng hơn. Cụ thể như sau:
  • Kiểm tra mào và yếm sẽ thấy tím bầm, ở mũi chảy ra chất nhầy.
  • Gà sốt cao, ủ rũ, giảm ăn nhưng uống nước nhiều, sốt cao từ 42 – 43 độ C. Kèm với sốt cao là hiện tượng khó thở, ho, hắt hơi, sổ mũi.
  • Gà bị rối loạn tiêu hóa nên ăn không tiêu, trướng diều, khi dốc ngược gà lên sẽ thấy có nước mùi chua khắm chảy ra do thức ăn lên men.
  • Đối với gà đẻ sẽ ngừng hoặc giảm sản lượng trứng sau khi bị mắc bệnh 7-21 ngày.
  • Vài ngày sau từ khi phát bệnh gà bị tiêu chảy phân trắng xanh, trắng xám hoặc nâu sẫm. Xuất huyết niêm mạc hậu môn những tia đỏ.
  • Tỉ lệ chết cao từ 40-80%
Thể mãn tính: Nếu xảy ổ dịch kéo dài sẽ chuyển thành thể mã tính. Gà bị thần kinh, đầu ngoẹo, cổ còng, quay vòng tròn, mổ trượt thức ăn.

Cách phòng bệnh Newcastle ở gà
Bệnh Newcatle ở gà không có thuốc điều trị bệnh đặc hiệu mà chủ yếu là thực hiện các biện pháp phòng bệnh để hạn chế bệnh dịch bùng phát. Trong trường hợp bệnh bùng phát thì sẽ kết hợp bổ sung các chất điện giải, vitamin C và sử dụng các kháng thể để điều trị.

DKT Biotech-VET- Bệnh Newcastle ở gà và cách phòng trị

Nguyên nhân và con đường lây lan bệnh Newcastle trên gà
Nguyên nhân: Là bệnh do virus nhóm Paramyxo gây ra ở tất cả các lứa tuổi và tất cả các giống gà. Tỉ lệ lây lan cao có thể lên đến 100% đàn gà và cũng có tỉ lệ chết cao. Bệnh Newcastle còn xảy ra cả trên bồ câu, vịt, gà tây, gà sao, chim cút, ngan...
Con đường lây lan: Lây lan trực tiếp qua tiếp xúc như qua người, chuột, chim trời mang virus. Qua không khí, qua thức ăn, nước uống, từ gà bệnh sang gà khỏe với tốc độ lây lan rất nhanh.
Virus Newcastle có thể tồn tại thời gian dài (năm này qua năm khác) ở điều khiện môi trường mát, nhưng cũng dễ bị diệt bởi các thuốc sát trùng thông dụng.

Triệu trứng và bệnh tích của bệnh Newcastle trêu gà
Bệnh tích
Khi mổ gà chết để kiểm tra thấy xuất huyết các cơ quan như tiêu hóa và hô. Dạ dày tuyến xuất huyết ở đỉnh lỗ tuyến. Ruột viêm loét, nỏi gồ hình cúc áo. Trực tràng, hậu môn xuất huyết. Thanh khí quản xuất huyết, phổi viêm túi khí đục.

Triệu trứng bệnh Newcastle trên gà
Thời gian ủ bệnh của bệnh Newcastle từ 5-12 ngày nhưng thường thường là 5 ngày. Bệnh được chia làm 3 thể là quá cấp tính, cấp tính và mãn tính. Với mỗi thể thì có một triệu trứng khác nhau.
Thể quá cấp tính: Gà ủ rũ và chết sau vài giờ, bệnh tiến triển rất nhanh, khó nhận ra triệu trứng của bệnh. Thường xảy ra vào đầu ổ dịch
Thể cấp tính: Ở thể cấp tính các biểu hiện, triệu trứng của bệnh rõ ràng hơn. Cụ thể như sau:
  • Kiểm tra mào và yếm sẽ thấy tím bầm, ở mũi chảy ra chất nhầy.
  • Gà sốt cao, ủ rũ, giảm ăn nhưng uống nước nhiều, sốt cao từ 42 – 43 độ C. Kèm với sốt cao là hiện tượng khó thở, ho, hắt hơi, sổ mũi.
  • Gà bị rối loạn tiêu hóa nên ăn không tiêu, trướng diều, khi dốc ngược gà lên sẽ thấy có nước mùi chua khắm chảy ra do thức ăn lên men.
  • Đối với gà đẻ sẽ ngừng hoặc giảm sản lượng trứng sau khi bị mắc bệnh 7-21 ngày.
  • Vài ngày sau từ khi phát bệnh gà bị tiêu chảy phân trắng xanh, trắng xám hoặc nâu sẫm. Xuất huyết niêm mạc hậu môn những tia đỏ.
  • Tỉ lệ chết cao từ 40-80%
Thể mãn tính: Nếu xảy ổ dịch kéo dài sẽ chuyển thành thể mã tính. Gà bị thần kinh, đầu ngoẹo, cổ còng, quay vòng tròn, mổ trượt thức ăn.

Cách phòng bệnh Newcastle ở gà
Bệnh Newcatle ở gà không có thuốc điều trị bệnh đặc hiệu mà chủ yếu là thực hiện các biện pháp phòng bệnh để hạn chế bệnh dịch bùng phát. Trong trường hợp bệnh bùng phát thì sẽ kết hợp bổ sung các chất điện giải, vitamin C và sử dụng các kháng thể để điều trị.
Đọc thêm
Đậu gà là bệnh truyền nhiễm do virus gây ra. Gà mắc bệnh ăn uống kém và là nguyên nhân sinh ra các bệnh khác, làm bệnh trở nên nặng hơn, có thể làm gà bị chết.

Bệnh đậu gà thường lây truyền từ muỗi và các loài côn trùng ký sinh khác khi di chuyển từ vật chủ này sang vật chủ kia, chẳng hạn như bét đỏ (red mite). Nó cũng có thể lây lan trong bầy từ con mang mầm bệnh sang con lành hay từ gà đã khỏi bệnh truyền virus (qua không khí) hay gián tiếp qua thực phẩm và nguồn nước ô nhiễm nơi gà bệnh truyền sang. Virus đậu gà có thể chịu đựng tốt trong điều kiện khô ráo và có thể tồn tại trong môi trường từ nhiều tháng cho đến cả năm qua những vảy khô và vụn lông gà
Để giúp người chăn nuôi nhận biết, phòng trị bệnh hiệu quả, xin nêu ra một số vấn đề sau:
Triệu chứng bệnh đậu gà:
Gà bị bệnh thường ở 1 trong 2 thể sau:
– Thể niêm mạc (màng giả, thường xảy ra ở gà con): Trong niêm mạc, hầu họng, khoé miệng, thanh quản phủ lớp màng giả màu trắng hoặc vàng, khi gạt lớp màng đi để lại các nốt loét màu đỏ ở tầng niêm mạc. Gà khó thở, ăn uống kém, từ miệng chảy ra chất nhờn lẫn mủ và màng giả.
– Thể ngoài da: Mụn đậu mọc ở những vùng da không lông như mào, mép, xung quanh mắt…  và đôi khi ở cả chân, hậu môn, phần da bên trong cánh. Mụn ở khóe mắt làm cho gà viêm kết mạc mắt, không mở mắt được gây khó nhìn. Nếu ở khóe miệng làm gà khó lấy thức ăn.
Mụn đậu mới xuất hiện là những nốt sần nhỏ, có màu nâu xám hay xám đỏ, sau đó to dần như hạt đậu, da sần sùi. Nốt đậu từ từ chuyển sang màu vàng, mềm, vỡ ra có mủ giống như kem. Mụn đậu khô đóng vẩy màu nâu sẫm, dần dần tróc đi để lại sẹo. Gà mắc ở thể này có thể vẫn ăn uống bình thường.
Đôi khi gà bị cả hai thể kết hợp làm bệnh tiến triển nhanh hơn và dễ chết hơn.

– Hằng ngày vệ sinh sạch sẽ chuồng trại, máng ăn, máng uống… tránh gió lùa, thoáng mát về mùa hè, ấm áp về mùa đông.
– Cung cấp đầy đủ thức ăn, nước uống cho gà, bảo đảm đủ dinh dưỡng, hợp vệ sinh. Bổ sung thường xuyên các loại vitamin, chất khoáng, điện giải… để tăng cường sức đề kháng cho gà.
– Định kỳ phun thuốc sát trùng chuồng trại, khu chăn nuôi (ít nhất 1 tuần/lần) để tiêu diệt mầm bệnh.
– Dùng vaccin phòng bệnh cho gà từ 7-10 ngày tuổi.
Pha viên vaccin đông khô vào dung dịch pha vaccin hoặc dung dịch nước sinh lý 0,9%, lắc đều, dùng kim khâu hoặc ngòi bút nhúng ngập, sau đó chích vào vùng dưới da mỏng của mặt trong cánh gà.
Bệnh do virus gây ra nên không có thuốc điều trị đặc hiệu, do vậy chỉ điều trị triệu chứng, dùng thuốc kháng sinh để chống bội nhiễm.
Các mụn đậu ngoài da thì dùng bông thấm nước muối pha loãng rửa sạch, rồi bôi các thuốc sát trùng nhẹ như Xanhmethylen 2% hoặc cồn Iod 1-2%, ngày 1-2 lần, bôi liên tục 3-4 ngày. Nếu mụn quá to thì dùng dao sắc gọt cắt, sau đó bôi thuốc. Nếu gà bị đau mắt thì dùng thuốc nhỏ mắt (sử dụng thuốc nhỏ mắt của người). Dùng các thuốc kháng sinh chống bội nhiễm như Amoxycol, Genta- costrim, Ampicol… pha vào nước uống hoặc trộn vào thức ăn cho gà, ngày 2 lần, dùng liên tục từ 3-5 ngày.
Ngoài ra, dùng thuốc trợ sức, trợ lực để tăng sức đề kháng cho gà  như B Complex, vitamin C, đặc biệt là vitamin A… pha thuốc vào nước cho gà uống trong quá trình điều trị.
---------------
Công ty Cổ phần Công nghệ Sinh học Thú y (BiotechVET)
Nhà máy sản xuất: Tdp Hoà Bình (Khu Dâu Tằm), phường Biên Giang, quận Hà Đông, TP. Hà Nội
Điện thoại: 0973 903 952 - 0975 280 111
E-mail: info.btv@dtk.com.vn
Facebook: https://www.facebook.com/BiotechVietNam1/
Website: http://biotechviet.vn/

DKT Biotech-VET- Triệu chứng và cách phòng bệnh đậu gà

Đậu gà là bệnh truyền nhiễm do virus gây ra. Gà mắc bệnh ăn uống kém và là nguyên nhân sinh ra các bệnh khác, làm bệnh trở nên nặng hơn, có thể làm gà bị chết.

Bệnh đậu gà thường lây truyền từ muỗi và các loài côn trùng ký sinh khác khi di chuyển từ vật chủ này sang vật chủ kia, chẳng hạn như bét đỏ (red mite). Nó cũng có thể lây lan trong bầy từ con mang mầm bệnh sang con lành hay từ gà đã khỏi bệnh truyền virus (qua không khí) hay gián tiếp qua thực phẩm và nguồn nước ô nhiễm nơi gà bệnh truyền sang. Virus đậu gà có thể chịu đựng tốt trong điều kiện khô ráo và có thể tồn tại trong môi trường từ nhiều tháng cho đến cả năm qua những vảy khô và vụn lông gà
Để giúp người chăn nuôi nhận biết, phòng trị bệnh hiệu quả, xin nêu ra một số vấn đề sau:
Triệu chứng bệnh đậu gà:
Gà bị bệnh thường ở 1 trong 2 thể sau:
– Thể niêm mạc (màng giả, thường xảy ra ở gà con): Trong niêm mạc, hầu họng, khoé miệng, thanh quản phủ lớp màng giả màu trắng hoặc vàng, khi gạt lớp màng đi để lại các nốt loét màu đỏ ở tầng niêm mạc. Gà khó thở, ăn uống kém, từ miệng chảy ra chất nhờn lẫn mủ và màng giả.
– Thể ngoài da: Mụn đậu mọc ở những vùng da không lông như mào, mép, xung quanh mắt…  và đôi khi ở cả chân, hậu môn, phần da bên trong cánh. Mụn ở khóe mắt làm cho gà viêm kết mạc mắt, không mở mắt được gây khó nhìn. Nếu ở khóe miệng làm gà khó lấy thức ăn.
Mụn đậu mới xuất hiện là những nốt sần nhỏ, có màu nâu xám hay xám đỏ, sau đó to dần như hạt đậu, da sần sùi. Nốt đậu từ từ chuyển sang màu vàng, mềm, vỡ ra có mủ giống như kem. Mụn đậu khô đóng vẩy màu nâu sẫm, dần dần tróc đi để lại sẹo. Gà mắc ở thể này có thể vẫn ăn uống bình thường.
Đôi khi gà bị cả hai thể kết hợp làm bệnh tiến triển nhanh hơn và dễ chết hơn.

– Hằng ngày vệ sinh sạch sẽ chuồng trại, máng ăn, máng uống… tránh gió lùa, thoáng mát về mùa hè, ấm áp về mùa đông.
– Cung cấp đầy đủ thức ăn, nước uống cho gà, bảo đảm đủ dinh dưỡng, hợp vệ sinh. Bổ sung thường xuyên các loại vitamin, chất khoáng, điện giải… để tăng cường sức đề kháng cho gà.
– Định kỳ phun thuốc sát trùng chuồng trại, khu chăn nuôi (ít nhất 1 tuần/lần) để tiêu diệt mầm bệnh.
– Dùng vaccin phòng bệnh cho gà từ 7-10 ngày tuổi.
Pha viên vaccin đông khô vào dung dịch pha vaccin hoặc dung dịch nước sinh lý 0,9%, lắc đều, dùng kim khâu hoặc ngòi bút nhúng ngập, sau đó chích vào vùng dưới da mỏng của mặt trong cánh gà.
Bệnh do virus gây ra nên không có thuốc điều trị đặc hiệu, do vậy chỉ điều trị triệu chứng, dùng thuốc kháng sinh để chống bội nhiễm.
Các mụn đậu ngoài da thì dùng bông thấm nước muối pha loãng rửa sạch, rồi bôi các thuốc sát trùng nhẹ như Xanhmethylen 2% hoặc cồn Iod 1-2%, ngày 1-2 lần, bôi liên tục 3-4 ngày. Nếu mụn quá to thì dùng dao sắc gọt cắt, sau đó bôi thuốc. Nếu gà bị đau mắt thì dùng thuốc nhỏ mắt (sử dụng thuốc nhỏ mắt của người). Dùng các thuốc kháng sinh chống bội nhiễm như Amoxycol, Genta- costrim, Ampicol… pha vào nước uống hoặc trộn vào thức ăn cho gà, ngày 2 lần, dùng liên tục từ 3-5 ngày.
Ngoài ra, dùng thuốc trợ sức, trợ lực để tăng sức đề kháng cho gà  như B Complex, vitamin C, đặc biệt là vitamin A… pha thuốc vào nước cho gà uống trong quá trình điều trị.
---------------
Công ty Cổ phần Công nghệ Sinh học Thú y (BiotechVET)
Nhà máy sản xuất: Tdp Hoà Bình (Khu Dâu Tằm), phường Biên Giang, quận Hà Đông, TP. Hà Nội
Điện thoại: 0973 903 952 - 0975 280 111
E-mail: info.btv@dtk.com.vn
Facebook: https://www.facebook.com/BiotechVietNam1/
Website: http://biotechviet.vn/
Đọc thêm
Dịch tả được xếp vào loại bệnh nguy hiểm bởi nguyên nhân gây bệnh từ vi rút, cơ chế lây bệnh nhanh chóng và qua nhiều đường truyền khác nhau. Dịch tả có thể lây lan qua đường tiêu hóa ăn uống, qua đường hô hấp, thông qua các vùng da bị trầy xước, tinh dịch,… Vi rút gây dịch tả có thể đi ra ngoài cơ thể con nhiễm bệnh qua phân, nước tiểu, nước bọt, vì vậy khả năng lây lan cho các con trong đàn rất cao. Dịch tả có thể truyền nhiễm từ heo mẹ sang heo con. Triệu chứng bệnh dịch tả heo khác nhau trong từng thể bệnh.

Nguyên nhân và hậu quả của bệnh dịch tả lợn
Bệnh dịch tả lợn cổ điển gây nên bởi vi rút có sức đề kháng cao thuộc họ Flaviviridiae, tồn tại trong chuồng heo ở nhiệt độ khoảng 37 độ C. Nguyên nhân phát bệnh là chuồng trại không được vệ sinh sạch sẽ, không tiến hành tiêu độc, khử trùng định kỳ để diệt vi khuẩn, vi rút gây bệnh. Khi vi rút này xuất hiện trong chuồng trại sẽ bị diệt ở nhiệt độ 60 độ C trong 1 tiếng. Heo nhiễm bệnh sẽ có triệu chứng bệnh dịch tả heo rất rõ rệt và khá dễ để phân biệt với các loại bệnh khác.

Khi triệu chứng dịch tả heo xuất hiện ở đàn heo trong chuồng, heo sẽ phát bệnh, tiến triển bệnh rất nhanh, thời gian ủ bệnh cũng rất ngắn chỉ từ 5 đến 7 ngày, vì vậy, dịch sẽ khó kiểm soát hơn. Tỷ lệ chết ở heo nhiễm dịch tả lên tới 80 đến 100% khi đã mắc. Bệnh dịch tả khiến tổn thất kinh tế trong chăn nuôi của bà con trở nên nghiêm trọng hơn.

Triệu chứng bệnh dịch tả lợn theo các cấp độ

Bệnh dịch tả thể cấp tính
  • Ở thể cấp tính, triệu chứng dịch tả heo phát triển theo tình trạng bệnh từ 8 đến 15 ngày, heo chết do gầy guộc và kiệt sức. Biểu hiện thấy đầ tiên đó là heo sốt cao trên 40 độ C. Heo nằm đè lên nhau, di chuyển chậm chạp. 2 biểu hiện sốt và chậm kéo dài từ khi heo mắc bệnh tới khi sắp chết.
  • Heo bị tiêu chảy sau 1 vài ngày bị táo bón, giai đoạn tiêu chảy có thể kèm theo máu tươi, phân lỏng, màu vàng và tanh khắm. Triệu trứng bệnh dịch tả heo có biểu hiện nôn mửa, ho, khó thở, mũi chảy nước, ngồi thở khi nặng dần. Mắt heo đỏ do niêm mạc bị viêm nặng, ngoài ra, các viêm mạc vùng miệng, mõm, chân răng, lưỡi xuất hiện vết lõm màu vàng hay xám. Những khu vực da mỏng xuất hiện nốt đỏ chuyển tím giống như ở thể siêu cấp tính.
Thể siêu cấp tính
  • Triệu chứng dịch tả heo ở thể siêu cấp tính là heo có dấu hiệu sốt cao trên 40 độ C. Heo bỏ ăn, trở nên lờ đờ, ủ rũ. Phần da mỏng như mang tai, bẹn, bụng xuất hiện nhiều nốt màu đỏ và chuyển dần sang màu tím sau vài giờ hoặc một vài ngày.
  • Bệnh dịch tả thể siêu cấp tính xuất hiện nhiều ở heo con một cách đột ngột, tỷ lệ chết cũng rất cao, bệnh tiến triển chỉ sau 1 đến 2 ngày mà chưa có biểu hiện triệu chứng bệnh dịch tả heo rõ ràng.
Triệu chứng bệnh dịch tả heo nặng hơn là heo bị liệt 2 chân sau, có biểu hiện thần kinh, đi đứng loạng choạng, bị co giật, đầu vẹo. Ở heo nái đang chửa, heo dễ xảy thai ở giai đoạn đầu mang thai, thai chết lưu khi ở giai đoạn chưa thể sinh ra, hoặc heo nái sinh non, heo con sinh ra vô cùng yếu và thường chết do bệnh tật.

Triệu chứng bệnh dịch tả heo mãn tính
  1. Triệu trứng dịch tả heo thể mãn tính thường xuất hiện khi heo ở 2 đến 3 tháng tuổi, phát triển từ cấp tính lên mãn tính. Heo lúc này đi ngoài không bình thường, lúc đi táo bón, lúc đi tiêu chảy. Heo thường xuyên ho và khó thở. Các vùng da mỏng bị tróc da thành từng mảng, nốt xuất huyết chuyển từ đỏ sang tím. Giai đoạn này bệnh phát triển kéo dài, dai dẳng trong 1 đến 2 tháng khiến heo gầy ruộc và chết cho kiệt sức.
  2. Triệu chứng dịch tả heo giai đoạn mãn tính thường gây thiệt hại kinh tế cao khi bà con thường có tâm lý cố gắng chữa trị cho heo, tốn kém cả thức ăn và thuốc điều trị. Tỷ lệ chết ở tất cả các thể bệnh đều cao như nhau, các kiểm soát bệnh dịch cũng khó khăn hơn nhiều so với những loại bệnh khác trên heo.
Bệnh dịch tả khiến ảnh hưởng tới tính mạng của heo nếu không có biện pháp kịp thời sẽ khiến heo chết, bởi vậy chúng ta cần có các biện pháp phòng bệnh dịch tả lợn, heo hợp lý. Thể bệnh nghiêm trọng theo từng độ tuổi của heo, vì vậy, bà con cần có biện pháp phòng bệnh dịch tả phù hợp, tránh trường hợp bệnh dịch phát triển trở thành quy mô toàn lớn. Vi rút gây bệnh thường lây lan nhanh, lại rất dễ lây, vì vậy, bà con cần hết sức lưu ý để tránh tình trạng bệnh dịch bùng phát. 

---------------
Công ty Cổ phần Công nghệ Sinh học Thú y (BiotechVET)
Nhà máy sản xuất: Tdp Hoà Bình (Khu Dâu Tằm), phường Biên Giang, quận Hà Đông, TP. Hà Nội
Điện thoại: 0973 903 952 - 0975 280 111
E-mail: info.btv@dtk.com.vn
Facebook: https://www.facebook.com/BiotechVietNam1/
Website: http://biotechviet.vn/

DKT Biotech-VET- Các triệu chứng và hậu quả của bệnh dịch tả heo

Dịch tả được xếp vào loại bệnh nguy hiểm bởi nguyên nhân gây bệnh từ vi rút, cơ chế lây bệnh nhanh chóng và qua nhiều đường truyền khác nhau. Dịch tả có thể lây lan qua đường tiêu hóa ăn uống, qua đường hô hấp, thông qua các vùng da bị trầy xước, tinh dịch,… Vi rút gây dịch tả có thể đi ra ngoài cơ thể con nhiễm bệnh qua phân, nước tiểu, nước bọt, vì vậy khả năng lây lan cho các con trong đàn rất cao. Dịch tả có thể truyền nhiễm từ heo mẹ sang heo con. Triệu chứng bệnh dịch tả heo khác nhau trong từng thể bệnh.

Nguyên nhân và hậu quả của bệnh dịch tả lợn
Bệnh dịch tả lợn cổ điển gây nên bởi vi rút có sức đề kháng cao thuộc họ Flaviviridiae, tồn tại trong chuồng heo ở nhiệt độ khoảng 37 độ C. Nguyên nhân phát bệnh là chuồng trại không được vệ sinh sạch sẽ, không tiến hành tiêu độc, khử trùng định kỳ để diệt vi khuẩn, vi rút gây bệnh. Khi vi rút này xuất hiện trong chuồng trại sẽ bị diệt ở nhiệt độ 60 độ C trong 1 tiếng. Heo nhiễm bệnh sẽ có triệu chứng bệnh dịch tả heo rất rõ rệt và khá dễ để phân biệt với các loại bệnh khác.

Khi triệu chứng dịch tả heo xuất hiện ở đàn heo trong chuồng, heo sẽ phát bệnh, tiến triển bệnh rất nhanh, thời gian ủ bệnh cũng rất ngắn chỉ từ 5 đến 7 ngày, vì vậy, dịch sẽ khó kiểm soát hơn. Tỷ lệ chết ở heo nhiễm dịch tả lên tới 80 đến 100% khi đã mắc. Bệnh dịch tả khiến tổn thất kinh tế trong chăn nuôi của bà con trở nên nghiêm trọng hơn.

Triệu chứng bệnh dịch tả lợn theo các cấp độ

Bệnh dịch tả thể cấp tính
  • Ở thể cấp tính, triệu chứng dịch tả heo phát triển theo tình trạng bệnh từ 8 đến 15 ngày, heo chết do gầy guộc và kiệt sức. Biểu hiện thấy đầ tiên đó là heo sốt cao trên 40 độ C. Heo nằm đè lên nhau, di chuyển chậm chạp. 2 biểu hiện sốt và chậm kéo dài từ khi heo mắc bệnh tới khi sắp chết.
  • Heo bị tiêu chảy sau 1 vài ngày bị táo bón, giai đoạn tiêu chảy có thể kèm theo máu tươi, phân lỏng, màu vàng và tanh khắm. Triệu trứng bệnh dịch tả heo có biểu hiện nôn mửa, ho, khó thở, mũi chảy nước, ngồi thở khi nặng dần. Mắt heo đỏ do niêm mạc bị viêm nặng, ngoài ra, các viêm mạc vùng miệng, mõm, chân răng, lưỡi xuất hiện vết lõm màu vàng hay xám. Những khu vực da mỏng xuất hiện nốt đỏ chuyển tím giống như ở thể siêu cấp tính.
Thể siêu cấp tính
  • Triệu chứng dịch tả heo ở thể siêu cấp tính là heo có dấu hiệu sốt cao trên 40 độ C. Heo bỏ ăn, trở nên lờ đờ, ủ rũ. Phần da mỏng như mang tai, bẹn, bụng xuất hiện nhiều nốt màu đỏ và chuyển dần sang màu tím sau vài giờ hoặc một vài ngày.
  • Bệnh dịch tả thể siêu cấp tính xuất hiện nhiều ở heo con một cách đột ngột, tỷ lệ chết cũng rất cao, bệnh tiến triển chỉ sau 1 đến 2 ngày mà chưa có biểu hiện triệu chứng bệnh dịch tả heo rõ ràng.
Triệu chứng bệnh dịch tả heo nặng hơn là heo bị liệt 2 chân sau, có biểu hiện thần kinh, đi đứng loạng choạng, bị co giật, đầu vẹo. Ở heo nái đang chửa, heo dễ xảy thai ở giai đoạn đầu mang thai, thai chết lưu khi ở giai đoạn chưa thể sinh ra, hoặc heo nái sinh non, heo con sinh ra vô cùng yếu và thường chết do bệnh tật.

Triệu chứng bệnh dịch tả heo mãn tính
  1. Triệu trứng dịch tả heo thể mãn tính thường xuất hiện khi heo ở 2 đến 3 tháng tuổi, phát triển từ cấp tính lên mãn tính. Heo lúc này đi ngoài không bình thường, lúc đi táo bón, lúc đi tiêu chảy. Heo thường xuyên ho và khó thở. Các vùng da mỏng bị tróc da thành từng mảng, nốt xuất huyết chuyển từ đỏ sang tím. Giai đoạn này bệnh phát triển kéo dài, dai dẳng trong 1 đến 2 tháng khiến heo gầy ruộc và chết cho kiệt sức.
  2. Triệu chứng dịch tả heo giai đoạn mãn tính thường gây thiệt hại kinh tế cao khi bà con thường có tâm lý cố gắng chữa trị cho heo, tốn kém cả thức ăn và thuốc điều trị. Tỷ lệ chết ở tất cả các thể bệnh đều cao như nhau, các kiểm soát bệnh dịch cũng khó khăn hơn nhiều so với những loại bệnh khác trên heo.
Bệnh dịch tả khiến ảnh hưởng tới tính mạng của heo nếu không có biện pháp kịp thời sẽ khiến heo chết, bởi vậy chúng ta cần có các biện pháp phòng bệnh dịch tả lợn, heo hợp lý. Thể bệnh nghiêm trọng theo từng độ tuổi của heo, vì vậy, bà con cần có biện pháp phòng bệnh dịch tả phù hợp, tránh trường hợp bệnh dịch phát triển trở thành quy mô toàn lớn. Vi rút gây bệnh thường lây lan nhanh, lại rất dễ lây, vì vậy, bà con cần hết sức lưu ý để tránh tình trạng bệnh dịch bùng phát. 

---------------
Công ty Cổ phần Công nghệ Sinh học Thú y (BiotechVET)
Nhà máy sản xuất: Tdp Hoà Bình (Khu Dâu Tằm), phường Biên Giang, quận Hà Đông, TP. Hà Nội
Điện thoại: 0973 903 952 - 0975 280 111
E-mail: info.btv@dtk.com.vn
Facebook: https://www.facebook.com/BiotechVietNam1/
Website: http://biotechviet.vn/
Đọc thêm
Các triệu chứng và bệnh tích đặc trưng khi lợn mắc dịch tả mà bà con nông dân cần chú ý.
Về triệu chứng, thời gian nung bệnh ở vật nuôi từ 3-7 ngày và bệnh có thể xuất hiện ở 1 trong 3 thể là thể quá cấp tính, thể cấp tính và thể mãn tính.
Thể quá cấp tính còn gọi là bệnh dịch tả lợn trắng. Bệnh xuất hiện đột ngột, không có triệu chứng ban đầu, vật nuôi có hiện tượng ủ rũ, bỏ ăn và sốt cao 41-42 độ C, giẫy giụa rồi chết khá nhanh trong vòng 24-48 giờ. Diễn biến bệnh trong vòng 1-2 ngày, tỷ lệ chết lên tới 100%.
Ở thể cấp tính, lợn cũng biểu hiện ủ rũ, kém ăn, bỏ ăn và cũng sốt cao như thể nêu trên kéo dài đến lúc gần chết, mắt viêm đỏ có dử, nước miếng chảy, miệng loét phủ bựa vàng ở lợi, chân răng, hầu; lợn thường bị khó thở, ói mửa, nhịp thở rối loạn. Lúc đầu lợn bị táo bón, sau đó tiêu chảy phân bết vào mông, đuôi mùi thối khắm thậm chí còn kèm theo cả máu tươi.

Ở một số vị trí như tai, mõm, bụng và 4 chân xuất huyết lấm tấm. Vào cuối thời kỳ bệnh, lợn bị bại 2 chân sau đi loạng choạng hoặc không đi được. Nếu ghép với các bệnh khác thì các triệu chứng trên trầm trọng hơn.
Biểu hiện dịch tả lợn ở thể mãn tính, lợn tiêu chảy gầy yếu, lợn bệnh chết do kiệt sức, lợn có thể khỏi bệnh nhưng vẫn mang virus.
Bệnh tích ở thể cấp tính lợn bị bại huyết, xuất huyết nặng ở các cơ quan nội tạng, hạch amidan xuất huyết, niêm mạc miệng, lưỡi tụ máu, dạ dày bị tụ huyết, có nốt loét ở đường tiêu hóa, ở van hồi manh tràng xuất huyết có những vết loét hình cúc áo...
Bệnh tích ở thể bệnh mãn tính phần ruột có những vết loét lõm sâu, bờ cao phủ bựa vàng và phổi có thể bị viêm dính vào lồng ngực.
Khi lợn mắc bệnh thường ghép với một số bệnh khác nên triệu chứng và bệnh tích có thể thay đổi tùy theo ghép với bệnh nào.
Thêm nữa, do đã tổ chức tiêm phòng vaccine nhiều năm nên nhiều trường hợp không phát hiện đầy đủ các bệnh tích điển hình nêu trên.
Để xác định bệnh một cách chính xác cần căn cứ vào kết quả xét nghiệm mẫu bệnh phẩm trong phòng thí nghiệm do cán bộ thú y trực tiếp lấy mẫu.

--------------- Công ty Cổ phần Công nghệ Sinh học Thú y (BiotechVET) Nhà máy sản xuất: Tdp Hoà Bình (Khu Dâu Tằm), phường Biên Giang, quận Hà Đông, TP. Hà Nội Điện thoại: 0973 903 952 - 0975 280 111 E-mail: info.btv@dtk.com.vn Facebook: https://www.facebook.com/BiotechVietN... Website: http://biotechviet.vn/

DKT Biotech-VET- Triệu chứng và bệnh tích đặc trưng khi lợn mắc dịch tả

Các triệu chứng và bệnh tích đặc trưng khi lợn mắc dịch tả mà bà con nông dân cần chú ý.
Về triệu chứng, thời gian nung bệnh ở vật nuôi từ 3-7 ngày và bệnh có thể xuất hiện ở 1 trong 3 thể là thể quá cấp tính, thể cấp tính và thể mãn tính.
Thể quá cấp tính còn gọi là bệnh dịch tả lợn trắng. Bệnh xuất hiện đột ngột, không có triệu chứng ban đầu, vật nuôi có hiện tượng ủ rũ, bỏ ăn và sốt cao 41-42 độ C, giẫy giụa rồi chết khá nhanh trong vòng 24-48 giờ. Diễn biến bệnh trong vòng 1-2 ngày, tỷ lệ chết lên tới 100%.
Ở thể cấp tính, lợn cũng biểu hiện ủ rũ, kém ăn, bỏ ăn và cũng sốt cao như thể nêu trên kéo dài đến lúc gần chết, mắt viêm đỏ có dử, nước miếng chảy, miệng loét phủ bựa vàng ở lợi, chân răng, hầu; lợn thường bị khó thở, ói mửa, nhịp thở rối loạn. Lúc đầu lợn bị táo bón, sau đó tiêu chảy phân bết vào mông, đuôi mùi thối khắm thậm chí còn kèm theo cả máu tươi.

Ở một số vị trí như tai, mõm, bụng và 4 chân xuất huyết lấm tấm. Vào cuối thời kỳ bệnh, lợn bị bại 2 chân sau đi loạng choạng hoặc không đi được. Nếu ghép với các bệnh khác thì các triệu chứng trên trầm trọng hơn.
Biểu hiện dịch tả lợn ở thể mãn tính, lợn tiêu chảy gầy yếu, lợn bệnh chết do kiệt sức, lợn có thể khỏi bệnh nhưng vẫn mang virus.
Bệnh tích ở thể cấp tính lợn bị bại huyết, xuất huyết nặng ở các cơ quan nội tạng, hạch amidan xuất huyết, niêm mạc miệng, lưỡi tụ máu, dạ dày bị tụ huyết, có nốt loét ở đường tiêu hóa, ở van hồi manh tràng xuất huyết có những vết loét hình cúc áo...
Bệnh tích ở thể bệnh mãn tính phần ruột có những vết loét lõm sâu, bờ cao phủ bựa vàng và phổi có thể bị viêm dính vào lồng ngực.
Khi lợn mắc bệnh thường ghép với một số bệnh khác nên triệu chứng và bệnh tích có thể thay đổi tùy theo ghép với bệnh nào.
Thêm nữa, do đã tổ chức tiêm phòng vaccine nhiều năm nên nhiều trường hợp không phát hiện đầy đủ các bệnh tích điển hình nêu trên.
Để xác định bệnh một cách chính xác cần căn cứ vào kết quả xét nghiệm mẫu bệnh phẩm trong phòng thí nghiệm do cán bộ thú y trực tiếp lấy mẫu.

--------------- Công ty Cổ phần Công nghệ Sinh học Thú y (BiotechVET) Nhà máy sản xuất: Tdp Hoà Bình (Khu Dâu Tằm), phường Biên Giang, quận Hà Đông, TP. Hà Nội Điện thoại: 0973 903 952 - 0975 280 111 E-mail: info.btv@dtk.com.vn Facebook: https://www.facebook.com/BiotechVietN... Website: http://biotechviet.vn/
Đọc thêm