Kết thúc tôm vụ 2 người dân Quỳnh Lưu (Nghệ An) có lãi cao, trừ chi phí mỗi hộ có trên dưới 1 tỷ đồng để lấy vốn quay vòng chuẩn bị nuôi tôm vụ 3.
Người dân Quỳnh Lương (Quỳnh Lưu) cải tạo ao đầm chuẩn bị nuôi tôm. Ảnh: Như Thủy
Tranh thủ thời tiết nắng ráo, những ngày qua, các hộ nuôi tôm trên địa bàn huyện Quỳnh Lưu tích cực xử lý ao đầm, phơi ao, cải tạo gia cố bờ ao nuôi sẵn sàng cho thả tôm vụ 3 năm.
Mặc dù huyện không khuyến khích người dân nuôi tôm vụ 3 vì nguy cơ dịch bệnh, rủi ro cao vì thời tiết, tuy nhiên qua nhiều năm thử nuôi, tôm vụ 3 được cho là “nuôi hay ăn thật” nên bà con vẫn mạnh dạn đầu tư.
Theo dự kiến, toàn huyện sẽ thả nuôi khoảng 320ha/600 ha diện tích nuôi tôm. Các địa phương có phong trào thả nuôi tôm vụ 3 tập trung nhiều Quỳnh Thanh, Quỳnh Bảng, Quỳnh Minh, Quỳnh Lương, An Hòa, Quỳnh Nghĩa, Nông trường Trịnh Môn. Phương pháp nuôi bà con chủ yếu lựa chọn nuôi quảng canh để giảm chi phí thức ăn, hoặc nuôi xen với các giống cá như cá đối đục…
Rút nước phơi ao dưới trời nắng sẽ giảm bớt vi khuẩn gây hại trên tôm. Ảnh: Như Thủy
Theo anh Nguyễn Văn Đức, một hộ nuôi tôm lớn trên địa bàn xã Quỳnh Lương, gia đình tôi có 7 ha diện tích nuôi tôm với tổng số 10 ao nuôi, sau 2 vụ nuôi chính thì vụ 3 gia đình chỉ cải tạo 3 ao nuôi và 1 ao lắng. Hiện tại đã thả giống được 2 ao. Nuôi tôm vụ 3 chúng tôi cũng không dám nuôi nhiều, đầu tư lớn để dễ kiểm soát dịch bệnh, nguồn nước cũng như hệ thống cơ sở vật chất.

"Nếu không nuôi vụ này, ao đầm bỏ bê 4 tháng trời sau khi bắt tay vào thả tôm vụ 1 chi phí đầu tư, cải tạo gia cố ao sẽ đội giá gấp 2, gấp 3 và mất nhiều thời gian hơn"- anh Đức cho biết.

DTK Biotech-Vet - Cải tạo ao đầm chuẩn bị thả tôm vụ 3

Kết thúc tôm vụ 2 người dân Quỳnh Lưu (Nghệ An) có lãi cao, trừ chi phí mỗi hộ có trên dưới 1 tỷ đồng để lấy vốn quay vòng chuẩn bị nuôi tôm vụ 3.
Người dân Quỳnh Lương (Quỳnh Lưu) cải tạo ao đầm chuẩn bị nuôi tôm. Ảnh: Như Thủy
Tranh thủ thời tiết nắng ráo, những ngày qua, các hộ nuôi tôm trên địa bàn huyện Quỳnh Lưu tích cực xử lý ao đầm, phơi ao, cải tạo gia cố bờ ao nuôi sẵn sàng cho thả tôm vụ 3 năm.
Mặc dù huyện không khuyến khích người dân nuôi tôm vụ 3 vì nguy cơ dịch bệnh, rủi ro cao vì thời tiết, tuy nhiên qua nhiều năm thử nuôi, tôm vụ 3 được cho là “nuôi hay ăn thật” nên bà con vẫn mạnh dạn đầu tư.
Theo dự kiến, toàn huyện sẽ thả nuôi khoảng 320ha/600 ha diện tích nuôi tôm. Các địa phương có phong trào thả nuôi tôm vụ 3 tập trung nhiều Quỳnh Thanh, Quỳnh Bảng, Quỳnh Minh, Quỳnh Lương, An Hòa, Quỳnh Nghĩa, Nông trường Trịnh Môn. Phương pháp nuôi bà con chủ yếu lựa chọn nuôi quảng canh để giảm chi phí thức ăn, hoặc nuôi xen với các giống cá như cá đối đục…
Rút nước phơi ao dưới trời nắng sẽ giảm bớt vi khuẩn gây hại trên tôm. Ảnh: Như Thủy
Theo anh Nguyễn Văn Đức, một hộ nuôi tôm lớn trên địa bàn xã Quỳnh Lương, gia đình tôi có 7 ha diện tích nuôi tôm với tổng số 10 ao nuôi, sau 2 vụ nuôi chính thì vụ 3 gia đình chỉ cải tạo 3 ao nuôi và 1 ao lắng. Hiện tại đã thả giống được 2 ao. Nuôi tôm vụ 3 chúng tôi cũng không dám nuôi nhiều, đầu tư lớn để dễ kiểm soát dịch bệnh, nguồn nước cũng như hệ thống cơ sở vật chất.

"Nếu không nuôi vụ này, ao đầm bỏ bê 4 tháng trời sau khi bắt tay vào thả tôm vụ 1 chi phí đầu tư, cải tạo gia cố ao sẽ đội giá gấp 2, gấp 3 và mất nhiều thời gian hơn"- anh Đức cho biết.
Đọc thêm
Đến hẹn lại lên, vào mùa hồ thủy điện Trị An xả đập, người dân xung quanh lại đổ xô về đây chờ nước rút để bắt cá.
Sáng 5-9, hàng trăm người đã đổ dồn về khu vực chân đập thủy điện Trị An (thị trấn Vĩnh An, huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai) chờ nước cạn rồi ào xuống để tìm bắt cá theo dòng nước lên sau đó bị mắc cạn.
Hàng trăm người dân túa ra trên "cánh đồng" nước xăm xắp. Trẻ con, người lớn, người già, phụ nữ cùng tham gia nhằm kiếm được món ngon đem về. Nhiều người dùng cả xung điện để bắt cá.
Trên bờ, bên các vách đá cheo leo, nhiều người quan sát, đứng xem bắt cá và trầm trồ, thỉnh thoảng ồ lên khi có ai đó bắt được cá to.
Chỉ trong vòng khoảng 1 giờ, nước gần như đã rút hoàn toàn. Nhiều người dân bắt được khá nhiều cá. Có người bắt được hàng chục ký cá gồm cá tra, cá lăng, cá chép. Người bắt được cá to nhất là một con cá tra gần 10 kg.
Vùng thủy điện Trị An chặn dòng sông Đồng Nai thuộc vùng đất đá dung nham núi lửa và còn lưu dấu văn hóa cổ xưa, phong cảnh khá hùng vĩ. Cảnh bắt cá diễn ra chẳng khác gì một mùa lễ hội.
Hàng năm, đơn vị quản lý hồ thủy điện Trị An xả đập khi mùa mưa lớn để điều tiết hồ.
Một số hình ảnh do phóng viên ghi lại:
Bắt cá từ chân đập xuống vùng hạ nguồn. Họ dùng nhiều dụng cụ để bắt cá.
Một số người bắt được cá lớn cả chục ký
Bỏ vào bao tải mang về
Theo người dân, "mùa cá" năm nay không nhiều cá bằng năm ngoái nhưng vẫn có những con rất to
BiotechVET  tổng hợp theo Người lao động

DTK Biotech-Vet - Đổ xô đi bắt cá ở hồ thủy điện Trị An

Đến hẹn lại lên, vào mùa hồ thủy điện Trị An xả đập, người dân xung quanh lại đổ xô về đây chờ nước rút để bắt cá.
Sáng 5-9, hàng trăm người đã đổ dồn về khu vực chân đập thủy điện Trị An (thị trấn Vĩnh An, huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai) chờ nước cạn rồi ào xuống để tìm bắt cá theo dòng nước lên sau đó bị mắc cạn.
Hàng trăm người dân túa ra trên "cánh đồng" nước xăm xắp. Trẻ con, người lớn, người già, phụ nữ cùng tham gia nhằm kiếm được món ngon đem về. Nhiều người dùng cả xung điện để bắt cá.
Trên bờ, bên các vách đá cheo leo, nhiều người quan sát, đứng xem bắt cá và trầm trồ, thỉnh thoảng ồ lên khi có ai đó bắt được cá to.
Chỉ trong vòng khoảng 1 giờ, nước gần như đã rút hoàn toàn. Nhiều người dân bắt được khá nhiều cá. Có người bắt được hàng chục ký cá gồm cá tra, cá lăng, cá chép. Người bắt được cá to nhất là một con cá tra gần 10 kg.
Vùng thủy điện Trị An chặn dòng sông Đồng Nai thuộc vùng đất đá dung nham núi lửa và còn lưu dấu văn hóa cổ xưa, phong cảnh khá hùng vĩ. Cảnh bắt cá diễn ra chẳng khác gì một mùa lễ hội.
Hàng năm, đơn vị quản lý hồ thủy điện Trị An xả đập khi mùa mưa lớn để điều tiết hồ.
Một số hình ảnh do phóng viên ghi lại:
Bắt cá từ chân đập xuống vùng hạ nguồn. Họ dùng nhiều dụng cụ để bắt cá.
Một số người bắt được cá lớn cả chục ký
Bỏ vào bao tải mang về
Theo người dân, "mùa cá" năm nay không nhiều cá bằng năm ngoái nhưng vẫn có những con rất to
BiotechVET  tổng hợp theo Người lao động
Đọc thêm
Quy trình thực hành chăn nuôi tốt trong nông hộ (VietGAHP nông hộ) là những nguyên tắc, trình tự hướng dẫn nhằm đảm bảo an toàn, nâng cao chất lượng sản phẩm gia súc, gia cầm, sức khỏe người chăn nuôi và người tiêu dùng, bảo vệ môi trường và truy nguyên nguồn gốc sản phẩm. Trung tâm Khuyến nông Quốc gia xin giới thiệu nội dung quy trình thực hành chăn nuôi tốt cho chăn nuôi lợn an toàn trong nông hộ (ban hành theo Quyết định số 2509/QĐ-BNN-CN ngày 22/6/2016 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và PTNT). Nội dung quy trình như sau:

1. Vị trí, hệ thống hạ tầng chuồng trại và thiết bị dụng cụ chăn nuôi

1.1. Vị trí xây dựng chuồng nuôi, khu vực chăn nuôi lợn phải phù hợp với điều kiện thực tế của từng hộ và phải tách biệt với nơi ở và nguồn nước sinh hoạt của người.

1.2. Chuồng nuôi phải có tường bao kín hoặc hàng rào kín ngăn cách với khu vực xung quanh tránh người hay động vật khác ra vào tự do, có cổng ra vào riêng, có hố khử trùng hoặc bố trí phương tiện khử trùng ở cổng ra, vào.

1.3. Chuồng nuôi phải đảm bảo: Nền chuồng không trơn trượt, không đọng nước, dễ làm vệ sinh. Hệ thống tường, mái, rèm che chuồng phải đảm bảo không bị dột, thấm, không bị mưa hắt, tránh được gió lùa và dễ làm vệ sinh. Nên có hố khử trùng tại cửa mỗi dãy chuồng nuôi.

1.4. Nơi nuôi cách ly, tân đáo nên tách biệt với chuồng nuôi chính. Nên có nơi để hoặc kho để dự trữ, bảo quản thức ăn chăn nuôi và thuốc thú y.

1.5. Khu vực xử lý chất thải, nước thải cần tách biệt với chuồng nuôi chính. Công suất của hệ thống xử lý chất thải, nước thải phải đáp ứng nhu cầu xử lý đối với quy mô đàn lợn được nuôi.

1.6. Có dụng cụ, thiết bị dùng riêng cho khu chăn nuôi. Các dụng cụ thiết bị này chỉ được sử dụng tại khu vực chăn nuôi và không dùng chung cho các mục đích khác ngoài khu chăn nuôi.

1.7. Thiết bị chiếu sáng, đèn chụp sưởi và các dụng cụ, thiết bị điện khác nên được bảo vệ chống vỡ, chống cháy nổ… nhằm đảm bảo an toàn cho người sử dụng và vật nuôi.

2. Giống và quản lý giống

2.1. Lợn giống phải có nguồn gốc rõ ràng.

2.2. Con giống phải khỏe mạnh và được tiêm phòng đầy đủ các loại vắc xin phù hợp với lứa tuổi lợn theo quy định của thú y.

2.3. Lợn giống mới nhập về cần được nuôi cách ly riêng và ghi chép đầy đủ các biểu hiện bệnh lý của con giống trong quá trình nuôi cách ly.

2.4. Không nuôi lẫn các lứa lợn khác nhau trong cùng ô chuồng; không nuôi chung lợn với các loài vật khác.

3. Thức ăn và quản lý thức ăn

3.1. Thức ăn phải có xuất xứ (địa chỉ nơi bán, đơn vị sản xuất…) rõ ràng, còn hạn sử dụng. Thức ăn đậm đặc phải có hướng dẫn phối trộn cho từng loại lợn; thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh phải có dấu hợp quy. Nguyên liệu dùng để phối trộn thức ăn phải đảm bảo vệ sinh, không bị ôi thiu, nấm mốc, mối mọt.

3.2. Khi phối trộn thức ăn đậm đặc cho lợn cần tuân thủ theo công thức đã được khuyến cáo; thức ăn tự phối trộn phải có và tuân thủ công thức. Thức ăn tận dụng phải được nấu chín trước khi cho ăn. Phải ghi chép đầy đủ thông tin về loại thức ăn, nguyên liệu thức ăn đã mua và sử dụng.

3.3. Trong trường hợp trộn thuốc vào thức ăn, phải kiểm tra đúng chủng loại thuốc, sử dụng theo hướng dẫn của nhà sản xuất và phải ghi chép đầy đủ theo quy định.

3.4. Không sử dụng thức ăn có hoặc cho vào thức ăn chăn nuôi các hóa chất, kháng sinh cấm sử dụng trong thức ăn chăn nuôi theo quy định của pháp luật.

3.5. Thức ăn, nguyên liệu thức ăn chăn nuôi cần có nơi đẻ bảo quản riêng biệt, khô ráo. Nên có các giá kê thức ăn và nguyên liệu, tránh đặt trực tiếp bao thức ăn xuống nền nhà. Nên có các biện pháp ngăn ngừa, diệt chuột và các loại côn trùng gây hại.

4. Nước uống và hệ thống cấp, thoát nước

4.1. Nước uống phải đáp ứng đủ theo nhu cầu của từng loại lợn; nguồn nước phải đảm bảo chất lượng, hợp vệ sinh (như: nước dùng sinh hoạt; nước máy; nước đã qua xử lý đạt yêu cầu…).

4.2. Thường xuyên kiểm tra hệ thống cấp nước (bao gồm bể chứa, bồn chứa, đường ống dẫn, máng uống…) đảm bảo hệ thống không bị ô nhiễm, không bị rò rỉ.

4.3. Không để nước thải, nước rửa chuồng chảy tràn từ ô chuồng này sang ô chuồng khác, từ chuồng này sang chuồng khác và không được thải trực tiếp nước thải ra môi trường. Nên có hệ thống thu gom xử lý nước thải, nước rửa chuồng riêng.

5. Công tác thú y và vệ sinh thú y

5.1. Vệ sinh chuồng trại: Hàng ngày quét dọn, thu gom chất thải rắn và chất thải lỏng. Định kỳ phát quang bụi rậm xung quanh chuồng nuôi, khơi thông cống rãnh.

5.2. Khử trùng chuồng trại: Thực hiện vệ sinh, khử trùng chuồng trại, các dụng cụ, thiết bị chăn nuôi trước khi đưa lợn vào nuôi theo đúng quy định. Vệ sinh, khử trùng chuồng trại, các dụng cụ, thiết bị chăn nuôi ngay sau khi chuyển đàn/xuất bán và để trống chuồng ít nhất 7 ngày. Định kỳ phun thuốc khử trùng toàn bộ diện tích xung quanh khu vực chuồng nuôi.

5.3. Kiểm soát khu vực chăn nuôi: Các phương tiện dụng cụ, giày dép, ủng đều phải thực hiện khử trùng trước khi ra/vào khu chăn nuôi. Định kỳ khử trùng các thiết bị, dụng cụ và phương tiện phục vụ trong khu chăn nuôi. Hạn chế khách thăm quan và những người không phận sự ra vào khu chăn nuôi. Nếu cần thiết thăm thì khách phải thay quần áo, giày dép, đồ bảo hộ phù hợp và thực hiện các biện pháp khử trùng trước khi ra vào khu vực chăn nuôi.

5.4. Bảo hộ lao động: Phải có quần áo, bảo hộ lao động sử dụng riêng trong khu vực chăn nuôi. Người chăn nuôi phải thay quần áo, bảo hộ lao động khi ra vào khu vực chăn nuôi, đồng thời định kỳ khử trùng quần áo, bảo hộ lao động.

5.5. Tiêm phòng: Phải tiêm phòng vắc xin đầy đủ đối với các bệnh bắt buộc theo quy định của ngành thú y và phải ghi chép lại.

5.6. Sử dụng thuốc thú y: Tất cả các loại thuốc thú y, thuốc kháng sinh khi mua và sử dụng phải tuân thủ theo hướng dẫn của nhà sản xuất hoặc chỉ dẫn của các bác sỹ thú y. Nên có nơi bảo quản thuốc riêng biệt.

5.7. Chất cấm: Không sử dụng các hóa chất, chất tạo nạc, chất kháng sinh… nằm trong danh mục cấm sử dụng trong chăn nuôi theo quy định của pháp luật.

5.8. Quản lý dịch bệnh: Trong trường hợp xảy ra dịch bệnh, chủ cơ sở chăn nuôi phải báo cáo ngay cho cơ quan quản lý chuyên ngành thú y hoặc chính quyền địa phương và tiến hành xử lý lợn bệnh theo sự chỉ đạo của chuyên môn thú y, đồng thời phải có ghi chép theo quy định.

6. Xuất bán lợn

6.1. Chỉ xuất bán lợn khỏe mạnh, không bị bệnh; xuất bán lợn sau khi hết thời gian ngưng thuốc khuyến cáo trên nhãn thuốc của nhà sản xuất.

6.2. Phải cung cấp đầy đủ hồ sơ, thông tin về nguồn gốc giống, tiêm phòng, tình hình điều trị bệnh… của tất cả các loại lợn khi xuất bán cho người mua.

6.3. Các phương tiện vận chuyển lợn cần đảm bảo mật độ thích hợp để  hạn chế tối đa rủi ro, stress cho lợn và có biện pháp tránh rơi vãi chất thải trên đường trong quá trình vận chuyển.

6.4. Các hộ áp dụng VietGAHP cho chăn nuôi lợn an toàn cần thực hiện đeo thẻ tai nhận dạng hoặc xăm số cho lợn nái, lợn thịt để phục vụ truy xuất nguồn gốc từ cơ sở giết mổ khi xẩy ra dịch bệnh hoặc rủi ro về an toàn thực phẩm.

6.5. Các hộ thực hiện quy trình VietGAHP nên tham gia vào chuỗi liên kết sản xuất, chế biến và tiêu thụ các sản phẩm theo hướng dẫn an toàn thực phẩm

7. Quản lý chất thải và bảo vệ môi trường

7.1. Hàng ngày cần thu gom chất thải rắn (phân, chất độn chuồng nếu có) đưa đến nơi tập trung để xử lý. Nếu phân và chất độn chuồn được xử lý bằng phương pháp ủ thì nên sử dụng thêm các chế phẩm sinh học để tăng hiệu quả xử lý và định kỳ phun thuốc khử trùng xung quanh hố ủ.

7.2. Các chất thải rắn khác như: kim tiêm, túi nhựa, đồ nhựa,… phải được thu gom và xử lý riêng.

7.3. Chất thải lỏng phải được dẫn trực tiếp từ chuồng nuôi tới hệ thống xử lý nước thải (biogas, bể lắng…) bằng đường thoát riêng. Nước thải sau khi xử lý phải đảm bảo an toàn trước khi xả ra môi trường.

7.4. Xác lợn chết do bệnh hoặc không rõ nguyên nhân cần được thu gom và xử lý theo đúng quy định của thú y. Tuyệt đối không bán lợn chết ra thị trường, và không được vứt xác lợn chết ra môi trường xung quanh.

8. Ghi chép, lưu trữ hồ sơ

8.1. Phải có sổ ghi chép và ghi chép đầy đủ tất cả các hoạt động trong quá trình chăn nuôi (từ khâu nhập con giống, mua và sử dụng thức ăn, tình trạng sức khỏe, tiêm phòng, điều trị bệnh… và việc xuất bán sản phẩm cho từng lứa riêng biệt) theo quy định.

8.2. Hệ thống sổ sách ghi chép của chủ hộ phải rõ ràng và cần được lưu giữ ít nhất 01 năm kể từ ngày đàn lợn được xuất bán hay chuyển đi nơi khác.

Nguồn bài viết: http://biotechviet.vn/quy-trinh-thuc-hanh-chan-nuoi-tot-cho-chan-nuoi-lon-trong-nong-ho-T34d0v2148.htm

DTK Biotech-Vet - Quy trình thực hành chăn nuôi tốt cho chăn nuôi lợn trong nông hộ

Quy trình thực hành chăn nuôi tốt trong nông hộ (VietGAHP nông hộ) là những nguyên tắc, trình tự hướng dẫn nhằm đảm bảo an toàn, nâng cao chất lượng sản phẩm gia súc, gia cầm, sức khỏe người chăn nuôi và người tiêu dùng, bảo vệ môi trường và truy nguyên nguồn gốc sản phẩm. Trung tâm Khuyến nông Quốc gia xin giới thiệu nội dung quy trình thực hành chăn nuôi tốt cho chăn nuôi lợn an toàn trong nông hộ (ban hành theo Quyết định số 2509/QĐ-BNN-CN ngày 22/6/2016 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và PTNT). Nội dung quy trình như sau:

1. Vị trí, hệ thống hạ tầng chuồng trại và thiết bị dụng cụ chăn nuôi

1.1. Vị trí xây dựng chuồng nuôi, khu vực chăn nuôi lợn phải phù hợp với điều kiện thực tế của từng hộ và phải tách biệt với nơi ở và nguồn nước sinh hoạt của người.

1.2. Chuồng nuôi phải có tường bao kín hoặc hàng rào kín ngăn cách với khu vực xung quanh tránh người hay động vật khác ra vào tự do, có cổng ra vào riêng, có hố khử trùng hoặc bố trí phương tiện khử trùng ở cổng ra, vào.

1.3. Chuồng nuôi phải đảm bảo: Nền chuồng không trơn trượt, không đọng nước, dễ làm vệ sinh. Hệ thống tường, mái, rèm che chuồng phải đảm bảo không bị dột, thấm, không bị mưa hắt, tránh được gió lùa và dễ làm vệ sinh. Nên có hố khử trùng tại cửa mỗi dãy chuồng nuôi.

1.4. Nơi nuôi cách ly, tân đáo nên tách biệt với chuồng nuôi chính. Nên có nơi để hoặc kho để dự trữ, bảo quản thức ăn chăn nuôi và thuốc thú y.

1.5. Khu vực xử lý chất thải, nước thải cần tách biệt với chuồng nuôi chính. Công suất của hệ thống xử lý chất thải, nước thải phải đáp ứng nhu cầu xử lý đối với quy mô đàn lợn được nuôi.

1.6. Có dụng cụ, thiết bị dùng riêng cho khu chăn nuôi. Các dụng cụ thiết bị này chỉ được sử dụng tại khu vực chăn nuôi và không dùng chung cho các mục đích khác ngoài khu chăn nuôi.

1.7. Thiết bị chiếu sáng, đèn chụp sưởi và các dụng cụ, thiết bị điện khác nên được bảo vệ chống vỡ, chống cháy nổ… nhằm đảm bảo an toàn cho người sử dụng và vật nuôi.

2. Giống và quản lý giống

2.1. Lợn giống phải có nguồn gốc rõ ràng.

2.2. Con giống phải khỏe mạnh và được tiêm phòng đầy đủ các loại vắc xin phù hợp với lứa tuổi lợn theo quy định của thú y.

2.3. Lợn giống mới nhập về cần được nuôi cách ly riêng và ghi chép đầy đủ các biểu hiện bệnh lý của con giống trong quá trình nuôi cách ly.

2.4. Không nuôi lẫn các lứa lợn khác nhau trong cùng ô chuồng; không nuôi chung lợn với các loài vật khác.

3. Thức ăn và quản lý thức ăn

3.1. Thức ăn phải có xuất xứ (địa chỉ nơi bán, đơn vị sản xuất…) rõ ràng, còn hạn sử dụng. Thức ăn đậm đặc phải có hướng dẫn phối trộn cho từng loại lợn; thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh phải có dấu hợp quy. Nguyên liệu dùng để phối trộn thức ăn phải đảm bảo vệ sinh, không bị ôi thiu, nấm mốc, mối mọt.

3.2. Khi phối trộn thức ăn đậm đặc cho lợn cần tuân thủ theo công thức đã được khuyến cáo; thức ăn tự phối trộn phải có và tuân thủ công thức. Thức ăn tận dụng phải được nấu chín trước khi cho ăn. Phải ghi chép đầy đủ thông tin về loại thức ăn, nguyên liệu thức ăn đã mua và sử dụng.

3.3. Trong trường hợp trộn thuốc vào thức ăn, phải kiểm tra đúng chủng loại thuốc, sử dụng theo hướng dẫn của nhà sản xuất và phải ghi chép đầy đủ theo quy định.

3.4. Không sử dụng thức ăn có hoặc cho vào thức ăn chăn nuôi các hóa chất, kháng sinh cấm sử dụng trong thức ăn chăn nuôi theo quy định của pháp luật.

3.5. Thức ăn, nguyên liệu thức ăn chăn nuôi cần có nơi đẻ bảo quản riêng biệt, khô ráo. Nên có các giá kê thức ăn và nguyên liệu, tránh đặt trực tiếp bao thức ăn xuống nền nhà. Nên có các biện pháp ngăn ngừa, diệt chuột và các loại côn trùng gây hại.

4. Nước uống và hệ thống cấp, thoát nước

4.1. Nước uống phải đáp ứng đủ theo nhu cầu của từng loại lợn; nguồn nước phải đảm bảo chất lượng, hợp vệ sinh (như: nước dùng sinh hoạt; nước máy; nước đã qua xử lý đạt yêu cầu…).

4.2. Thường xuyên kiểm tra hệ thống cấp nước (bao gồm bể chứa, bồn chứa, đường ống dẫn, máng uống…) đảm bảo hệ thống không bị ô nhiễm, không bị rò rỉ.

4.3. Không để nước thải, nước rửa chuồng chảy tràn từ ô chuồng này sang ô chuồng khác, từ chuồng này sang chuồng khác và không được thải trực tiếp nước thải ra môi trường. Nên có hệ thống thu gom xử lý nước thải, nước rửa chuồng riêng.

5. Công tác thú y và vệ sinh thú y

5.1. Vệ sinh chuồng trại: Hàng ngày quét dọn, thu gom chất thải rắn và chất thải lỏng. Định kỳ phát quang bụi rậm xung quanh chuồng nuôi, khơi thông cống rãnh.

5.2. Khử trùng chuồng trại: Thực hiện vệ sinh, khử trùng chuồng trại, các dụng cụ, thiết bị chăn nuôi trước khi đưa lợn vào nuôi theo đúng quy định. Vệ sinh, khử trùng chuồng trại, các dụng cụ, thiết bị chăn nuôi ngay sau khi chuyển đàn/xuất bán và để trống chuồng ít nhất 7 ngày. Định kỳ phun thuốc khử trùng toàn bộ diện tích xung quanh khu vực chuồng nuôi.

5.3. Kiểm soát khu vực chăn nuôi: Các phương tiện dụng cụ, giày dép, ủng đều phải thực hiện khử trùng trước khi ra/vào khu chăn nuôi. Định kỳ khử trùng các thiết bị, dụng cụ và phương tiện phục vụ trong khu chăn nuôi. Hạn chế khách thăm quan và những người không phận sự ra vào khu chăn nuôi. Nếu cần thiết thăm thì khách phải thay quần áo, giày dép, đồ bảo hộ phù hợp và thực hiện các biện pháp khử trùng trước khi ra vào khu vực chăn nuôi.

5.4. Bảo hộ lao động: Phải có quần áo, bảo hộ lao động sử dụng riêng trong khu vực chăn nuôi. Người chăn nuôi phải thay quần áo, bảo hộ lao động khi ra vào khu vực chăn nuôi, đồng thời định kỳ khử trùng quần áo, bảo hộ lao động.

5.5. Tiêm phòng: Phải tiêm phòng vắc xin đầy đủ đối với các bệnh bắt buộc theo quy định của ngành thú y và phải ghi chép lại.

5.6. Sử dụng thuốc thú y: Tất cả các loại thuốc thú y, thuốc kháng sinh khi mua và sử dụng phải tuân thủ theo hướng dẫn của nhà sản xuất hoặc chỉ dẫn của các bác sỹ thú y. Nên có nơi bảo quản thuốc riêng biệt.

5.7. Chất cấm: Không sử dụng các hóa chất, chất tạo nạc, chất kháng sinh… nằm trong danh mục cấm sử dụng trong chăn nuôi theo quy định của pháp luật.

5.8. Quản lý dịch bệnh: Trong trường hợp xảy ra dịch bệnh, chủ cơ sở chăn nuôi phải báo cáo ngay cho cơ quan quản lý chuyên ngành thú y hoặc chính quyền địa phương và tiến hành xử lý lợn bệnh theo sự chỉ đạo của chuyên môn thú y, đồng thời phải có ghi chép theo quy định.

6. Xuất bán lợn

6.1. Chỉ xuất bán lợn khỏe mạnh, không bị bệnh; xuất bán lợn sau khi hết thời gian ngưng thuốc khuyến cáo trên nhãn thuốc của nhà sản xuất.

6.2. Phải cung cấp đầy đủ hồ sơ, thông tin về nguồn gốc giống, tiêm phòng, tình hình điều trị bệnh… của tất cả các loại lợn khi xuất bán cho người mua.

6.3. Các phương tiện vận chuyển lợn cần đảm bảo mật độ thích hợp để  hạn chế tối đa rủi ro, stress cho lợn và có biện pháp tránh rơi vãi chất thải trên đường trong quá trình vận chuyển.

6.4. Các hộ áp dụng VietGAHP cho chăn nuôi lợn an toàn cần thực hiện đeo thẻ tai nhận dạng hoặc xăm số cho lợn nái, lợn thịt để phục vụ truy xuất nguồn gốc từ cơ sở giết mổ khi xẩy ra dịch bệnh hoặc rủi ro về an toàn thực phẩm.

6.5. Các hộ thực hiện quy trình VietGAHP nên tham gia vào chuỗi liên kết sản xuất, chế biến và tiêu thụ các sản phẩm theo hướng dẫn an toàn thực phẩm

7. Quản lý chất thải và bảo vệ môi trường

7.1. Hàng ngày cần thu gom chất thải rắn (phân, chất độn chuồng nếu có) đưa đến nơi tập trung để xử lý. Nếu phân và chất độn chuồn được xử lý bằng phương pháp ủ thì nên sử dụng thêm các chế phẩm sinh học để tăng hiệu quả xử lý và định kỳ phun thuốc khử trùng xung quanh hố ủ.

7.2. Các chất thải rắn khác như: kim tiêm, túi nhựa, đồ nhựa,… phải được thu gom và xử lý riêng.

7.3. Chất thải lỏng phải được dẫn trực tiếp từ chuồng nuôi tới hệ thống xử lý nước thải (biogas, bể lắng…) bằng đường thoát riêng. Nước thải sau khi xử lý phải đảm bảo an toàn trước khi xả ra môi trường.

7.4. Xác lợn chết do bệnh hoặc không rõ nguyên nhân cần được thu gom và xử lý theo đúng quy định của thú y. Tuyệt đối không bán lợn chết ra thị trường, và không được vứt xác lợn chết ra môi trường xung quanh.

8. Ghi chép, lưu trữ hồ sơ

8.1. Phải có sổ ghi chép và ghi chép đầy đủ tất cả các hoạt động trong quá trình chăn nuôi (từ khâu nhập con giống, mua và sử dụng thức ăn, tình trạng sức khỏe, tiêm phòng, điều trị bệnh… và việc xuất bán sản phẩm cho từng lứa riêng biệt) theo quy định.

8.2. Hệ thống sổ sách ghi chép của chủ hộ phải rõ ràng và cần được lưu giữ ít nhất 01 năm kể từ ngày đàn lợn được xuất bán hay chuyển đi nơi khác.

Nguồn bài viết: http://biotechviet.vn/quy-trinh-thuc-hanh-chan-nuoi-tot-cho-chan-nuoi-lon-trong-nong-ho-T34d0v2148.htm
Đọc thêm
Nhận thấy vùng ao đầm trên địa bàn đang sinh sống rất phù hợp để nuôi thủy cầm, anh Quách Minh Chung (thôn 12, xã Ea Ô, huyện Ea Kar) đã mạnh dạn thử nghiệm nuôi vịt trời và bước đầu đã mang lại hiệu quả kinh tế khá cao.
Anh Quách Minh Chung cho biết, khu vực hồ C2 (xã Ea Ô, huyện Ea Kar, tỉnh Đắk Lắk) vốn là hồ nước tự nhiên, chủ yếu phục vụ nước tưới cho sản xuất nông nghiệp trong vùng. Sau nhiều lần tìm hiểu, anh thấy khu vực này rất phù hợp để nuôi các loại thủy cầm vì hồ nước rộng, rất nhiều thức ăn tự nhiên như ốc, cá, bèo... Qua đọc sách báo, anh thấy nuôi vịt trời đang là hướng đi mới của nhiều nông dân vì kỹ thuật nuôi, chăm sóc không khó nhưng mang lại hiệu quả kinh tế cao nên anh đã mạnh dạn thuê 12 ha mặt nước ở hồ C2 , đồng thời xuống tỉnh Đồng Nai tham quan và mua 600 con vịt trời về nuôi thử. Thời gian đầu anh rất lo lắng vì không biết đàn vịt có thích nghi được không nên anh dốc hết “vốn liếng” kiến thức học được để chăm đàn vịt. Không phụ công người nuôi, đàn vịt phát triển rất tốt, không bị bệnh, thích nghi với điều kiện khí hậu tại Ea Kar. Sau 1 năm tập trung nhân giống phát triển đàn, đến nay quy mô trang trại của anh đã lên đến 35.000 con, bao gồm vịt giống, vịt con và vịt thương phẩm. Theo anh Chung, vịt trời có ưu điểm ăn ít hơn vịt nhà, vịt trưởng thành thích ăn các loại thức ăn tự nhiên hơn là thức ăn tổng hợp nên người nuôi chỉ sử dụng thức ăn công nghiệp ở tháng đầu tiên. Khi vịt mới nở đến lúc 3 tuần tuổi, phải cho ăn cám với đầy đủ dinh dưỡng, từ 3 tuần tuổi đến lúc xuất chuồng, thức ăn của vịt hoàn toàn có nguồn gốc tự nhiên như ốc, bèo, bắp..., trừ vịt đẻ là phải cho ăn thêm cám tổng hợp. Đặc điểm nổi bật của vịt trời là bơi và bay rất giỏi, do đó cần có diện tích mặt nước đủ rộng để vịt không bay đi mất, đồng thời cần cung cấp đầy đủ thức ăn, ban đêm phải có một bóng điện nhỏ thắp sáng để vịt tự về chuồng.
Trang trại nuôi vịt trời của anh Quách Minh Chung.
Để đảm bảo chất lượng vịt thương phẩm, anh Chung áp dụng quy trình nuôi vịt sạch và cách nuôi bán hoang dã, đàn vịt được chăn nuôi gần như hoàn toàn trong môi trường nước hồ tự nhiên với chuồng trại được xây dựng bảo đảm kỹ thuật. Theo anh Chung, mặc dù vịt trời có sức đề kháng cao, ít bị nhiễm bệnh nhưng cũng cần phải tiêm vắc xin đầy đủ, phun thuốc sát trùng để phòng bệnh. Thời gian nuôi từ vịt con lên vịt thương phẩm mất khoảng 2,5 - 3 tháng, mỗi con vịt thương phẩm nặng từ 1-1,3 kg, với giá bán lẻ 100 nghìn đồng/kg. Bên cạnh đó, anh còn đầu tư hệ thống máy ấp trứng để cung cấp con giống cho các hộ dân có nhu cầu, với giá 15.000 đồng/con. Hiện tại, vịt thương phẩm, vịt giống của gia đình anh Chung mới chỉ đủ cung cấp trên địa bàn tỉnh và một số ít cho tỉnh Lâm Đồng. Sau khi trừ chi phí, lợi nhuận gia đình anh thu được khoảng 200 - 300 triệu đồng. Thấy hiệu quả kinh tế khá cao, anh đang có dự định mở rộng quy mô nuôi vịt trời bằng cách liên kết với các hộ dân trong vùng, anh đầu tư con giống và bao tiêu sản phẩm, đồng thời tiến tới xây dựng thương hiệu để phát triển bền vững và đưa sản phẩm đi xa hơn.
BiotechVET tổng hợp theo Báo Đắk Lắk

DTK Biotech-Vet - Làm giàu từ nuôi vịt trời

Nhận thấy vùng ao đầm trên địa bàn đang sinh sống rất phù hợp để nuôi thủy cầm, anh Quách Minh Chung (thôn 12, xã Ea Ô, huyện Ea Kar) đã mạnh dạn thử nghiệm nuôi vịt trời và bước đầu đã mang lại hiệu quả kinh tế khá cao.
Anh Quách Minh Chung cho biết, khu vực hồ C2 (xã Ea Ô, huyện Ea Kar, tỉnh Đắk Lắk) vốn là hồ nước tự nhiên, chủ yếu phục vụ nước tưới cho sản xuất nông nghiệp trong vùng. Sau nhiều lần tìm hiểu, anh thấy khu vực này rất phù hợp để nuôi các loại thủy cầm vì hồ nước rộng, rất nhiều thức ăn tự nhiên như ốc, cá, bèo... Qua đọc sách báo, anh thấy nuôi vịt trời đang là hướng đi mới của nhiều nông dân vì kỹ thuật nuôi, chăm sóc không khó nhưng mang lại hiệu quả kinh tế cao nên anh đã mạnh dạn thuê 12 ha mặt nước ở hồ C2 , đồng thời xuống tỉnh Đồng Nai tham quan và mua 600 con vịt trời về nuôi thử. Thời gian đầu anh rất lo lắng vì không biết đàn vịt có thích nghi được không nên anh dốc hết “vốn liếng” kiến thức học được để chăm đàn vịt. Không phụ công người nuôi, đàn vịt phát triển rất tốt, không bị bệnh, thích nghi với điều kiện khí hậu tại Ea Kar. Sau 1 năm tập trung nhân giống phát triển đàn, đến nay quy mô trang trại của anh đã lên đến 35.000 con, bao gồm vịt giống, vịt con và vịt thương phẩm. Theo anh Chung, vịt trời có ưu điểm ăn ít hơn vịt nhà, vịt trưởng thành thích ăn các loại thức ăn tự nhiên hơn là thức ăn tổng hợp nên người nuôi chỉ sử dụng thức ăn công nghiệp ở tháng đầu tiên. Khi vịt mới nở đến lúc 3 tuần tuổi, phải cho ăn cám với đầy đủ dinh dưỡng, từ 3 tuần tuổi đến lúc xuất chuồng, thức ăn của vịt hoàn toàn có nguồn gốc tự nhiên như ốc, bèo, bắp..., trừ vịt đẻ là phải cho ăn thêm cám tổng hợp. Đặc điểm nổi bật của vịt trời là bơi và bay rất giỏi, do đó cần có diện tích mặt nước đủ rộng để vịt không bay đi mất, đồng thời cần cung cấp đầy đủ thức ăn, ban đêm phải có một bóng điện nhỏ thắp sáng để vịt tự về chuồng.
Trang trại nuôi vịt trời của anh Quách Minh Chung.
Để đảm bảo chất lượng vịt thương phẩm, anh Chung áp dụng quy trình nuôi vịt sạch và cách nuôi bán hoang dã, đàn vịt được chăn nuôi gần như hoàn toàn trong môi trường nước hồ tự nhiên với chuồng trại được xây dựng bảo đảm kỹ thuật. Theo anh Chung, mặc dù vịt trời có sức đề kháng cao, ít bị nhiễm bệnh nhưng cũng cần phải tiêm vắc xin đầy đủ, phun thuốc sát trùng để phòng bệnh. Thời gian nuôi từ vịt con lên vịt thương phẩm mất khoảng 2,5 - 3 tháng, mỗi con vịt thương phẩm nặng từ 1-1,3 kg, với giá bán lẻ 100 nghìn đồng/kg. Bên cạnh đó, anh còn đầu tư hệ thống máy ấp trứng để cung cấp con giống cho các hộ dân có nhu cầu, với giá 15.000 đồng/con. Hiện tại, vịt thương phẩm, vịt giống của gia đình anh Chung mới chỉ đủ cung cấp trên địa bàn tỉnh và một số ít cho tỉnh Lâm Đồng. Sau khi trừ chi phí, lợi nhuận gia đình anh thu được khoảng 200 - 300 triệu đồng. Thấy hiệu quả kinh tế khá cao, anh đang có dự định mở rộng quy mô nuôi vịt trời bằng cách liên kết với các hộ dân trong vùng, anh đầu tư con giống và bao tiêu sản phẩm, đồng thời tiến tới xây dựng thương hiệu để phát triển bền vững và đưa sản phẩm đi xa hơn.
BiotechVET tổng hợp theo Báo Đắk Lắk
Đọc thêm
Bí quyết cho da trắng hồng với kem dưỡng làm trắng da toàn thân tốt nhất hiện nay Whitening Body Cream của PERFECTA.Một làn da trắng mịn, hồng hào luôn là ước ao của phụ nữ châu Á nói chung cũng như phụ nữ Việt Nam nói riêng. Chính vì vậy, việc chọn ra một loại kem dưỡng trắng da toàn thân tốt và an toàn nhất, để chị em có thể yên tâm sử dụng lâu dài, luôn là một vấn đề được phái đẹp quan tâm hơn bao giờ hết. Làn da ngăm, xỉn màu không chỉ khiến cho bạn lo lắng và thiếu tự tin khi giao tiếp với mọi người xung quanh mà còn làm bạn mệt mỏi, tốn nhiều thời gian mỗi khi phải cố gắng chọn đồ cho thật phù hợp với làn da khó ưa của mình.

Hiện nay, có rất nhiều phương pháp để làm trắng da toàn thân. Nhiều chị e chọn cách đi Spa, tiêm trắng, truyền trắng… nhưng khá tốn kém, mất không ít thời gian và đặc biệt làm trắng da như vậy liệu có đảm bảo an toàn không? Đó cũng là câu hỏi của rất nhiều chị em đang thắc mắc.



Ai cũng có quyền làm đẹp, nhưng chúng ta phải thật sáng suốt chọn cho mình những bí quyết làm đẹp riêng, an toàn, hiệu quả để làn da được đẹp và thật khỏe mạnh từ trong da ngoài. 

Kem trắng da toàn thân Whitening Body Cream Perfecta sẽ đồng hành và giúp bạn biến những giấc mơ “nàng bạch tuyết” thành hiện thực, với chiết xuất từ thiên nhiên mang đến nhiều ưu điểm vượt trội, giúp dưỡng da trắng sáng tư nhiên, cân bằng độ ẩm kết hợp nuôi dưỡng làn da từ sâu bên trong.​

Với công thức được cải tiến từ các Protein chiết xuất từ thiên nhiên kết hợp với các thành phần thảo dược. Kem dưỡng trắng da toàn thân tốt nhất hiện nay Whitening Body Cream giúp dưỡng da trắng sáng một cách tự nhiên, mềm mịn, tăng độ đàn hồi cho da, cân bằng độ ẩm, xóa mờ các vết nhăn, vết nám, sạm da, hỗ trợ ngăn chặn quá trình lão hoá, sạm da, nám, đốm nâu và đặc biệt là chống nắng, chống tia UV


Cách sử dụng sản phẩm kem trắng da Whitening Body Cream hiệu quả nhất

Bước 1: Làm sạch da bằng sữa tắm và lau khô da nhẹ nhàng (dùng thêm tẩy da chết một tuần một lần giúp kem thẩm thấu vào da nhanh hơn).

Bước 2: Dùng một lượng kem vừa đủ thoa đều, massage nhẹ nhàng cho kem thấm vào da. Có thể dùng ngày 2 lần sáng và tối.

Sản phẩm kem dưỡng làm trắng da toàn thân Whitening Body Cream là một trong các sản phẩm được đội ngũ dược sĩ giỏi chuyên môn đầu tư nghiên cứu với hệ thông sản xuất vô cùng hiện đại, cam kết thích hợp và an toàn với mọi làn da.

CTY TNHH H&N DOAN'S BEAUTY

https://www.facebook.com/DoanBeauty
http://www.perfecta.com.vn
Liên hệ để trở thành ĐL/CTV :
Hotline: 0945.11.74.77
CSKH: 0945.78.74.77

Hướng đi nào cho ngành chăn nuôi Việt Nam

Bí quyết cho da trắng hồng với kem dưỡng làm trắng da toàn thân tốt nhất hiện nay Whitening Body Cream của PERFECTA.Một làn da trắng mịn, hồng hào luôn là ước ao của phụ nữ châu Á nói chung cũng như phụ nữ Việt Nam nói riêng. Chính vì vậy, việc chọn ra một loại kem dưỡng trắng da toàn thân tốt và an toàn nhất, để chị em có thể yên tâm sử dụng lâu dài, luôn là một vấn đề được phái đẹp quan tâm hơn bao giờ hết. Làn da ngăm, xỉn màu không chỉ khiến cho bạn lo lắng và thiếu tự tin khi giao tiếp với mọi người xung quanh mà còn làm bạn mệt mỏi, tốn nhiều thời gian mỗi khi phải cố gắng chọn đồ cho thật phù hợp với làn da khó ưa của mình.

Hiện nay, có rất nhiều phương pháp để làm trắng da toàn thân. Nhiều chị e chọn cách đi Spa, tiêm trắng, truyền trắng… nhưng khá tốn kém, mất không ít thời gian và đặc biệt làm trắng da như vậy liệu có đảm bảo an toàn không? Đó cũng là câu hỏi của rất nhiều chị em đang thắc mắc.



Ai cũng có quyền làm đẹp, nhưng chúng ta phải thật sáng suốt chọn cho mình những bí quyết làm đẹp riêng, an toàn, hiệu quả để làn da được đẹp và thật khỏe mạnh từ trong da ngoài. 

Kem trắng da toàn thân Whitening Body Cream Perfecta sẽ đồng hành và giúp bạn biến những giấc mơ “nàng bạch tuyết” thành hiện thực, với chiết xuất từ thiên nhiên mang đến nhiều ưu điểm vượt trội, giúp dưỡng da trắng sáng tư nhiên, cân bằng độ ẩm kết hợp nuôi dưỡng làn da từ sâu bên trong.​

Với công thức được cải tiến từ các Protein chiết xuất từ thiên nhiên kết hợp với các thành phần thảo dược. Kem dưỡng trắng da toàn thân tốt nhất hiện nay Whitening Body Cream giúp dưỡng da trắng sáng một cách tự nhiên, mềm mịn, tăng độ đàn hồi cho da, cân bằng độ ẩm, xóa mờ các vết nhăn, vết nám, sạm da, hỗ trợ ngăn chặn quá trình lão hoá, sạm da, nám, đốm nâu và đặc biệt là chống nắng, chống tia UV


Cách sử dụng sản phẩm kem trắng da Whitening Body Cream hiệu quả nhất

Bước 1: Làm sạch da bằng sữa tắm và lau khô da nhẹ nhàng (dùng thêm tẩy da chết một tuần một lần giúp kem thẩm thấu vào da nhanh hơn).

Bước 2: Dùng một lượng kem vừa đủ thoa đều, massage nhẹ nhàng cho kem thấm vào da. Có thể dùng ngày 2 lần sáng và tối.

Sản phẩm kem dưỡng làm trắng da toàn thân Whitening Body Cream là một trong các sản phẩm được đội ngũ dược sĩ giỏi chuyên môn đầu tư nghiên cứu với hệ thông sản xuất vô cùng hiện đại, cam kết thích hợp và an toàn với mọi làn da.

CTY TNHH H&N DOAN'S BEAUTY

https://www.facebook.com/DoanBeauty
http://www.perfecta.com.vn
Liên hệ để trở thành ĐL/CTV :
Hotline: 0945.11.74.77
CSKH: 0945.78.74.77
Đọc thêm
Phát biểu tại Hội nghị, Bộ trưởng Nguyễn Xuân Cường nhấn mạnh, thời gian tới cần phải cơ cấu lại ngành chăn nuôi lợn theo 2 hướng: công nghiệp và chăn nuôi hữu cơ theo hướng lợn đặc sản.
Ngày 29/8, tại Hà Nội, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã tổ chức Hội nghị đánh giá kết quả triển khai các biện pháp ổn định thị trường và phát triển chăn nuôi lợn.
Phát biểu tại Hội nghị, Bộ trưởng Nguyễn Xuân Cường nhấn mạnh, thời gian tới cần phải cơ cấu lại ngành chăn nuôi lợn theo 2 hướng: công nghiệp và chăn nuôi hữu cơ theo hướng lợn đặc sản.


Bộ trưởng Nguyễn Xuân Cường (giữa) chủ trì Hội nghị đánh giá kết quả triển khai các biện pháp ổn định thị trường và phát triển chăn nuôi lợn. 
 Theo Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, thời gian tới sẽ thúc đẩy nhanh hướng chăn nuôi hữu cơ, tập trung vào các giống lợn đặc sản.
Đánh giá về ngành chăn nuôi lợn thời gian qua, Bộ trưởng Nguyễn Xuân Cường cho rằng, mặc dù con giống hiện đã được cải thiện ngang bằng với các nước phát triển trong khu vực; thức ăn chăn nuôi đứng thứ nhất trong khu vực với sản lượng 31 triệu tấn/năm; công nghệ, quy trình luôn được nâng cao nhưng ngành chăn nuôi mới chỉ làm tốt khâu thúc đẩy sản xuất.
Bên cạnh đó, đối với lĩnh vực thức ăn chăn nuôi cũng khuyến khích các doanh nghiệp chuyển sang sản xuất thức ăn chăn nuôi hữu cơ.
Đặc biệt, phải tổ chức lại sản xuất từ hộ chăn nuôi nhỏ lẻ đến doanh nghiệp đều phải thực hiện chăn nuôi theo chuỗi liên kết. Bởi đây chính là hình thức phát triển bền vững.
Ngoài ra, phải thay đổi công tác quản lý nhà nước, từ tiêu chuẩn, quy chuẩn, kiểm soát thị trường…
Trong khi đó, khâu chế biến và thị trường vẫn còn yếu, đây là 2 khâu rất quan trọng. Dẫn chứng là thời gian qua đã xảy ra câu chuyện khủng hoảng thừa thịt lợn, dẫn đến giá thịt lợn giảm sâu, người chăn nuôi thua lỗ… nguyên nhân chính là mất cân đối cung cầu thị trường, tổ chức sản xuất ngành hàng chưa tốt.
Theo Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Trần Thanh Nam, muốn đẩy mạnh chăn nuôi cần phải đánh giá lại thị trường tiêu thụ, chủ yếu là thị trường trong nước, còn xuất khẩu chỉ một phần.
Do đó, thời gian tới cần tập trung điều chỉnh nguồn cung, cải tạo đàn nái, giảm giá thành và nâng cao giá trị, đa dạng hoá sản phẩm chăn nuôi.
Đặc biệt, phải xác định chuỗi liên kết. Thứ trưởng Trần Thanh Nam cũng đề nghị các địa phương tập trung xây dựng các chuỗi liên kết sản xuất, bởi hiện đã có chính sách hỗ trợ.
Giám đốc Công ty cổ phần công nghệ Minh Anh – Đào Quang Minh kiến nghị, cơ quan quản lý Nhà nước cần siết chặt, quản lý các cơ sở giết mổ nhỏ lẻ, đồng thời, khuyến khích và hỗ trợ doanh nghiệp tham gia chuỗi liên kết.
Hướng tới, xây dựng Hiệp hội sản xuất thịt lợn an toàn, bởi đây là tổ chức sẽ kiểm soát và đảm bảo quyền lợi cho người chăn nuôi.
Ông Nguyễn Xuân Dương, Phó Cục trưởng Cục Chăn nuôi cho biết, trong 3 tháng qua đã loại thải được gần 500.000 con lợn nái, tương đương khoảng 10,28%, đây là con số rất lớn không chỉ có ảnh hưởng trực tiếp đến nguồn cung con giống trước mắt mà còn có ảnh hưởng lâu dài đến những năm tiếp theo.
Bên cạnh đó, các địa phương đã mở các điểm bán hàng thịt lợn bình ổn giá, bằng cách mua lợn hơi giá cao cho người chăn nuôi và tổ chức giết mổ bán thịt lợn giá thấp đến tay người tiêu dùng.
Các hệ thống siêu thị như BigC, Hapro, Saigon Coop, Metro… tại Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh đã giảm giá bán thịt lợn từ 15 – 30% trong hệ thống siêu thị.
Hầu hết các cơ sở giết mổ, chế biến thực phẩm đã tăng công suất giết mổ và cấp đông mặt hàng thịt lợn góp phần tăng sức mua đối với mặt hàng này; trong đó có những cơ sở giết mổ công nghiệp sau nhiều năm đóng cửa lại được khôi phục hoạt động trở lại. Điển hình cho hoạt động này có: Dabaco, Thái Dương, Anh Dũng, Vinh Anh, Minh Hiền, Vissan…/.

DTK Biotech-Vet -Hướng đi nào cho ngành chăn nuôi Việt Nam trong thời gian tới

Phát biểu tại Hội nghị, Bộ trưởng Nguyễn Xuân Cường nhấn mạnh, thời gian tới cần phải cơ cấu lại ngành chăn nuôi lợn theo 2 hướng: công nghiệp và chăn nuôi hữu cơ theo hướng lợn đặc sản.
Ngày 29/8, tại Hà Nội, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã tổ chức Hội nghị đánh giá kết quả triển khai các biện pháp ổn định thị trường và phát triển chăn nuôi lợn.
Phát biểu tại Hội nghị, Bộ trưởng Nguyễn Xuân Cường nhấn mạnh, thời gian tới cần phải cơ cấu lại ngành chăn nuôi lợn theo 2 hướng: công nghiệp và chăn nuôi hữu cơ theo hướng lợn đặc sản.


Bộ trưởng Nguyễn Xuân Cường (giữa) chủ trì Hội nghị đánh giá kết quả triển khai các biện pháp ổn định thị trường và phát triển chăn nuôi lợn. 
 Theo Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, thời gian tới sẽ thúc đẩy nhanh hướng chăn nuôi hữu cơ, tập trung vào các giống lợn đặc sản.
Đánh giá về ngành chăn nuôi lợn thời gian qua, Bộ trưởng Nguyễn Xuân Cường cho rằng, mặc dù con giống hiện đã được cải thiện ngang bằng với các nước phát triển trong khu vực; thức ăn chăn nuôi đứng thứ nhất trong khu vực với sản lượng 31 triệu tấn/năm; công nghệ, quy trình luôn được nâng cao nhưng ngành chăn nuôi mới chỉ làm tốt khâu thúc đẩy sản xuất.
Bên cạnh đó, đối với lĩnh vực thức ăn chăn nuôi cũng khuyến khích các doanh nghiệp chuyển sang sản xuất thức ăn chăn nuôi hữu cơ.
Đặc biệt, phải tổ chức lại sản xuất từ hộ chăn nuôi nhỏ lẻ đến doanh nghiệp đều phải thực hiện chăn nuôi theo chuỗi liên kết. Bởi đây chính là hình thức phát triển bền vững.
Ngoài ra, phải thay đổi công tác quản lý nhà nước, từ tiêu chuẩn, quy chuẩn, kiểm soát thị trường…
Trong khi đó, khâu chế biến và thị trường vẫn còn yếu, đây là 2 khâu rất quan trọng. Dẫn chứng là thời gian qua đã xảy ra câu chuyện khủng hoảng thừa thịt lợn, dẫn đến giá thịt lợn giảm sâu, người chăn nuôi thua lỗ… nguyên nhân chính là mất cân đối cung cầu thị trường, tổ chức sản xuất ngành hàng chưa tốt.
Theo Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Trần Thanh Nam, muốn đẩy mạnh chăn nuôi cần phải đánh giá lại thị trường tiêu thụ, chủ yếu là thị trường trong nước, còn xuất khẩu chỉ một phần.
Do đó, thời gian tới cần tập trung điều chỉnh nguồn cung, cải tạo đàn nái, giảm giá thành và nâng cao giá trị, đa dạng hoá sản phẩm chăn nuôi.
Đặc biệt, phải xác định chuỗi liên kết. Thứ trưởng Trần Thanh Nam cũng đề nghị các địa phương tập trung xây dựng các chuỗi liên kết sản xuất, bởi hiện đã có chính sách hỗ trợ.
Giám đốc Công ty cổ phần công nghệ Minh Anh – Đào Quang Minh kiến nghị, cơ quan quản lý Nhà nước cần siết chặt, quản lý các cơ sở giết mổ nhỏ lẻ, đồng thời, khuyến khích và hỗ trợ doanh nghiệp tham gia chuỗi liên kết.
Hướng tới, xây dựng Hiệp hội sản xuất thịt lợn an toàn, bởi đây là tổ chức sẽ kiểm soát và đảm bảo quyền lợi cho người chăn nuôi.
Ông Nguyễn Xuân Dương, Phó Cục trưởng Cục Chăn nuôi cho biết, trong 3 tháng qua đã loại thải được gần 500.000 con lợn nái, tương đương khoảng 10,28%, đây là con số rất lớn không chỉ có ảnh hưởng trực tiếp đến nguồn cung con giống trước mắt mà còn có ảnh hưởng lâu dài đến những năm tiếp theo.
Bên cạnh đó, các địa phương đã mở các điểm bán hàng thịt lợn bình ổn giá, bằng cách mua lợn hơi giá cao cho người chăn nuôi và tổ chức giết mổ bán thịt lợn giá thấp đến tay người tiêu dùng.
Các hệ thống siêu thị như BigC, Hapro, Saigon Coop, Metro… tại Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh đã giảm giá bán thịt lợn từ 15 – 30% trong hệ thống siêu thị.
Hầu hết các cơ sở giết mổ, chế biến thực phẩm đã tăng công suất giết mổ và cấp đông mặt hàng thịt lợn góp phần tăng sức mua đối với mặt hàng này; trong đó có những cơ sở giết mổ công nghiệp sau nhiều năm đóng cửa lại được khôi phục hoạt động trở lại. Điển hình cho hoạt động này có: Dabaco, Thái Dương, Anh Dũng, Vinh Anh, Minh Hiền, Vissan…/.
Đọc thêm
 1. Bệnh do vi khuẩn Listeria trên heo là bệnh gì?
Listeriosis là một bệnh nhiễm khuẩn ảnh hưởng đến nhiều loài động vật, bao gồm cả heo, người, chim và các động vật nhai lại. Bệnh do vi khuẩn tên là Listeria monocytogenes gây ra và được tìm thấy ở rất nhiều nơi trên toàn thế giới, đặc biệt là ở những vùng có khí hậu ôn đới và khí hậu lạnh.
Vi khuẩn thường được tìm thấy trong ruột của heo và các loài cảm nhiễm khác. Ngoài ra, nó còn xuất hiện nhiều trong pho mát và thức ăn ủ chua. Heo sẽ bị nhiễm trùng nếu tiếp xúc với mầm bệnh, dù vậy bệnh rất ít xảy ra trên heo.

Vi khuẩn thường gây viêm não và viêm màng não mãn tính trên động vật nhai lại trưởng thành. Hơn nữa, nó cũng gây ra rất nhiều những thiệt hại đáng kể trên người.
2. Bệnh do vi khuẩn Listeria trên heo nguy hiểm như thế nào?
Khi heo khỏe hít phải, ăn phải vi khuẩn, vi khuẩn xâm nhập đến các mô, cơ quan đích và gây nên các triệu chứng bệnh tương ứng như:
- Xâm nhập vào máu gây nhiễm trùng huyết. nhiễm trùng tiềm ẩn (ít biểu hiện triệu chứng ra ngoài).
- Xâm nhập vào bào thai, vào tử cung gây thai chết lưu, hỏng thai, gây chết heo con sơ sinh, sinh non…
- Xâm nhập vào thành ruột gây rối loạn tiêu hóa, hấp thu…
- Xâm nhập vào màng não và các tế bào não gây triệu chứng thần kinh, viêm màng não, viêm não.
- Xâm nhập đến các cơ quan nội tạng như gan gây hoại tử gan.
Mặc dù bệnh do vi khuẩn Listeria trên heo ít khi phát triển nặng trên heo nhưng với mật độ mầm bệnh dày đặc và đa dạng như hiện nay, nếu chúng ta không làm tốt công tác vệ sinh tiêu độc khử trùng thì khi được các mầm bệnh khác “mở đường”, vi khuẩn Listeria hoàn toàn có thể xâm nhập và làm cho tình trạng càng nặng thêm.
3. Làm sao để phát hiện bệnh do vi khuẩn Listeria trên heo?
Bệnh do vi khuẩn Listeria trên heo thường chỉ xuất hiện trên heo nái và heo con theo mẹ. Vì vậy, ta tập trung quan sát 2 đối tượng này, nếu thấy có các biểu hiện sau đây thì có thể heo đã bị nhiễm vi khuẩn Listeria.
Heo nái:
- Ít khi thấy biểu hiện rõ triệu chứng.
- Nếu có thì có thể có các triệu chứng như:
    o Sẩy thai.
    o Số heo con sinh ra yếu gia tăng.
    o Tăng số heo con chết lưu.
Heo con theo mẹ:


Đột tử.
- Sốt cao.
- Nhiễm trùng huyết.
- Triệu chứng thần kinh, viêm màng não.
- Đầu bị nghiêng 1 bên.
- Nhiễm trùng tai.
Trong trường hợp bệnh do vi khuẩn Listeria trên heo gây thiệt hại nhiều, để chắc chắn ta nên mang mẫu bệnh phẩm đi xét nghiệm để tìm chính xác căn nguyên gây bệnh nhằm có biện pháp điều trị kịp thời.
4. Xử lý bệnh do vi khuẩn Listeria trên heo như thế nào?
Hành động đầu tiên nếu phát hiện heo nhiễm bện bệnh do vi khuẩn Listeria trên heo là cách ly toàn bộ heo bệnh sang một ô chuồng khác để chăm sóc theo chế độ riêng.
Nếu heo đang ăn thức ăn ủ chua thì nên dừng lại ngay. Sau đó tiến hành điều trị cho heo bệnh bằng kháng sinh và các thuốc trợ sức, trợ lực (nhất là với những heo giảm mức thu nhận thức ăn).
Các thuốc kháng sinh hiệu quả với bệnh do vi khuẩn Listeria trên heo bao gồm: penicillin, ceftiofur, erythromycin , và trimethoprim/sulfonamide. Trong đó, penicillin là thuốc có tác dụng tốt nhất cho đến hiện nay.
Khi tiêm kháng sinh, cần dùng ngay liều cao từ ban đầu vì như vậy mới có thể đạt được nồng độ diệt khuẩn tối thiểu trong não.
BiotechVET  tổng hợp theo Vietdvm

DTK Biotech-Vet -Vi khuẩn Listeria trên heo con – nhiễm trùng huyết, viêm não.

 1. Bệnh do vi khuẩn Listeria trên heo là bệnh gì?
Listeriosis là một bệnh nhiễm khuẩn ảnh hưởng đến nhiều loài động vật, bao gồm cả heo, người, chim và các động vật nhai lại. Bệnh do vi khuẩn tên là Listeria monocytogenes gây ra và được tìm thấy ở rất nhiều nơi trên toàn thế giới, đặc biệt là ở những vùng có khí hậu ôn đới và khí hậu lạnh.
Vi khuẩn thường được tìm thấy trong ruột của heo và các loài cảm nhiễm khác. Ngoài ra, nó còn xuất hiện nhiều trong pho mát và thức ăn ủ chua. Heo sẽ bị nhiễm trùng nếu tiếp xúc với mầm bệnh, dù vậy bệnh rất ít xảy ra trên heo.

Vi khuẩn thường gây viêm não và viêm màng não mãn tính trên động vật nhai lại trưởng thành. Hơn nữa, nó cũng gây ra rất nhiều những thiệt hại đáng kể trên người.
2. Bệnh do vi khuẩn Listeria trên heo nguy hiểm như thế nào?
Khi heo khỏe hít phải, ăn phải vi khuẩn, vi khuẩn xâm nhập đến các mô, cơ quan đích và gây nên các triệu chứng bệnh tương ứng như:
- Xâm nhập vào máu gây nhiễm trùng huyết. nhiễm trùng tiềm ẩn (ít biểu hiện triệu chứng ra ngoài).
- Xâm nhập vào bào thai, vào tử cung gây thai chết lưu, hỏng thai, gây chết heo con sơ sinh, sinh non…
- Xâm nhập vào thành ruột gây rối loạn tiêu hóa, hấp thu…
- Xâm nhập vào màng não và các tế bào não gây triệu chứng thần kinh, viêm màng não, viêm não.
- Xâm nhập đến các cơ quan nội tạng như gan gây hoại tử gan.
Mặc dù bệnh do vi khuẩn Listeria trên heo ít khi phát triển nặng trên heo nhưng với mật độ mầm bệnh dày đặc và đa dạng như hiện nay, nếu chúng ta không làm tốt công tác vệ sinh tiêu độc khử trùng thì khi được các mầm bệnh khác “mở đường”, vi khuẩn Listeria hoàn toàn có thể xâm nhập và làm cho tình trạng càng nặng thêm.
3. Làm sao để phát hiện bệnh do vi khuẩn Listeria trên heo?
Bệnh do vi khuẩn Listeria trên heo thường chỉ xuất hiện trên heo nái và heo con theo mẹ. Vì vậy, ta tập trung quan sát 2 đối tượng này, nếu thấy có các biểu hiện sau đây thì có thể heo đã bị nhiễm vi khuẩn Listeria.
Heo nái:
- Ít khi thấy biểu hiện rõ triệu chứng.
- Nếu có thì có thể có các triệu chứng như:
    o Sẩy thai.
    o Số heo con sinh ra yếu gia tăng.
    o Tăng số heo con chết lưu.
Heo con theo mẹ:


Đột tử.
- Sốt cao.
- Nhiễm trùng huyết.
- Triệu chứng thần kinh, viêm màng não.
- Đầu bị nghiêng 1 bên.
- Nhiễm trùng tai.
Trong trường hợp bệnh do vi khuẩn Listeria trên heo gây thiệt hại nhiều, để chắc chắn ta nên mang mẫu bệnh phẩm đi xét nghiệm để tìm chính xác căn nguyên gây bệnh nhằm có biện pháp điều trị kịp thời.
4. Xử lý bệnh do vi khuẩn Listeria trên heo như thế nào?
Hành động đầu tiên nếu phát hiện heo nhiễm bện bệnh do vi khuẩn Listeria trên heo là cách ly toàn bộ heo bệnh sang một ô chuồng khác để chăm sóc theo chế độ riêng.
Nếu heo đang ăn thức ăn ủ chua thì nên dừng lại ngay. Sau đó tiến hành điều trị cho heo bệnh bằng kháng sinh và các thuốc trợ sức, trợ lực (nhất là với những heo giảm mức thu nhận thức ăn).
Các thuốc kháng sinh hiệu quả với bệnh do vi khuẩn Listeria trên heo bao gồm: penicillin, ceftiofur, erythromycin , và trimethoprim/sulfonamide. Trong đó, penicillin là thuốc có tác dụng tốt nhất cho đến hiện nay.
Khi tiêm kháng sinh, cần dùng ngay liều cao từ ban đầu vì như vậy mới có thể đạt được nồng độ diệt khuẩn tối thiểu trong não.
BiotechVET  tổng hợp theo Vietdvm
Đọc thêm