Bệnh rụt mỏ vịt con tuy không phải là bệnh phổ biến nhưng đôi khi xẩy ra ở vịt con dưới 30 ngày tuổi gây thiệt hại khá lớn cho người chăn nuôi, nhất là với các đàn vịt chạy đồng.
Nguyên nhân của bệnh rụt mỏ ở vịt con này là khi chúng ăn phải thức ăn hoặc uống nước có lẫn chất nhạy cảm ánh sáng (chất cảm quang, photosensitive compounds). Các chất cảm quang này có thể có nguồn gốc tự nhiên trong các nguồn vật liệu chế biến thức ăn gia súc như thân, lá, quả, hạt của các loại cây hoặc từ nguồn tổng hợp các nhóm kháng sinh quinolone (olaquindox, carbadox, norfloxacin…), phenothiazine, sulfonamides, tetracyclines được hấp thu vào máu và dưới tác dụng của ánh sáng mặt trời nó phân hủy ra các yếu tố gây dị ứng mạnh trong đó có hiện tượng mỏ bị rụt ngắn và bè ra gây khó khăn cho việc ăn uống dẫn đến vịt gầy, yếu, có thể chết do bị đói.
Theo PGS.TS Dương Thanh Liêm (ĐH Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh) thì bệnh rụt mỏ thường xẩy ra trên vịt con hơn 10 ngày tuổi, vịt lông trắng dễ bị hơn vịt lông màu, tỉ lệ bệnh 60-70%, tỷ lệ chết 10-15%.

Triệu chứng: Đầu tiên ở mỏ trên của vịt con xuất hiện một hoặc vài vết nám, phồng rộp lên. Sau vài ngày các vết rộp này lan rộng ra tạo thành vết thương lở loét làm cho vịt đau đớn, dụi mỏ vào đất cát. Sau khoảng 1 tuần thì vết thường lành nhưng mỏ trên bị rụt ngắn lại và bè ra gây khó khăn cho việc ăn uống của vịt.
Phòng bệnh: Kiểm tra kỹ thức ăn, nước uống để đảm bảo không có chất nhạy cảm ánh sáng trước khi cho vịt con ăn, uống (đặc biệt với vịt con từ 1-21 ngày tuổi). Không dùng nguyên liệu có lẫn các loại cây có chứa chất cảm quang, không sử dụng premix có chứa kháng sinh nhóm quinolone… Khi úm vịt con 1-3 ngày tuổi, khi điều trị vịt bị bệnh (nhất là vịt con) thì tránh dùng những chế phẩm thú dược có chứa kháng sinh nhóm quinolone…
Điều trị: Ngừng sử dụng thức ăn, nước uống có nhiễm chất cảm quang. Tránh để vịt con bị bệnh rụt mỏ tiếp xúc với ánh nắng mặt trời, nên nhốt vào chỗ râm, mát. Dùng các loại vitamin tổng hợp (sinh tố tổng hợp), điện giải (electrolytes) để tăng cường sức đề kháng cho vịt.

DKT Biotech-VET- Phòng và điều trị bệnh rụt mỏ ở vịt con

Bệnh rụt mỏ vịt con tuy không phải là bệnh phổ biến nhưng đôi khi xẩy ra ở vịt con dưới 30 ngày tuổi gây thiệt hại khá lớn cho người chăn nuôi, nhất là với các đàn vịt chạy đồng.
Nguyên nhân của bệnh rụt mỏ ở vịt con này là khi chúng ăn phải thức ăn hoặc uống nước có lẫn chất nhạy cảm ánh sáng (chất cảm quang, photosensitive compounds). Các chất cảm quang này có thể có nguồn gốc tự nhiên trong các nguồn vật liệu chế biến thức ăn gia súc như thân, lá, quả, hạt của các loại cây hoặc từ nguồn tổng hợp các nhóm kháng sinh quinolone (olaquindox, carbadox, norfloxacin…), phenothiazine, sulfonamides, tetracyclines được hấp thu vào máu và dưới tác dụng của ánh sáng mặt trời nó phân hủy ra các yếu tố gây dị ứng mạnh trong đó có hiện tượng mỏ bị rụt ngắn và bè ra gây khó khăn cho việc ăn uống dẫn đến vịt gầy, yếu, có thể chết do bị đói.
Theo PGS.TS Dương Thanh Liêm (ĐH Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh) thì bệnh rụt mỏ thường xẩy ra trên vịt con hơn 10 ngày tuổi, vịt lông trắng dễ bị hơn vịt lông màu, tỉ lệ bệnh 60-70%, tỷ lệ chết 10-15%.

Triệu chứng: Đầu tiên ở mỏ trên của vịt con xuất hiện một hoặc vài vết nám, phồng rộp lên. Sau vài ngày các vết rộp này lan rộng ra tạo thành vết thương lở loét làm cho vịt đau đớn, dụi mỏ vào đất cát. Sau khoảng 1 tuần thì vết thường lành nhưng mỏ trên bị rụt ngắn lại và bè ra gây khó khăn cho việc ăn uống của vịt.
Phòng bệnh: Kiểm tra kỹ thức ăn, nước uống để đảm bảo không có chất nhạy cảm ánh sáng trước khi cho vịt con ăn, uống (đặc biệt với vịt con từ 1-21 ngày tuổi). Không dùng nguyên liệu có lẫn các loại cây có chứa chất cảm quang, không sử dụng premix có chứa kháng sinh nhóm quinolone… Khi úm vịt con 1-3 ngày tuổi, khi điều trị vịt bị bệnh (nhất là vịt con) thì tránh dùng những chế phẩm thú dược có chứa kháng sinh nhóm quinolone…
Điều trị: Ngừng sử dụng thức ăn, nước uống có nhiễm chất cảm quang. Tránh để vịt con bị bệnh rụt mỏ tiếp xúc với ánh nắng mặt trời, nên nhốt vào chỗ râm, mát. Dùng các loại vitamin tổng hợp (sinh tố tổng hợp), điện giải (electrolytes) để tăng cường sức đề kháng cho vịt.
Đọc thêm
Năm 2010, sau nhiều năm tha phương cầu thực, ông Lê Văn Long trở về quê thuê đất làm trang trại. Trên vùng nhiễm mặn, ông đào ao thả cá, xây chuồng trại, trồng thanh long, nuôi tôm… cho lãi ròng mỗi năm gần 500 triệu đồng.
Vùng đất nhiễm mặn tại thôn Đạo Lý, xã Hoằng Đạo, huyện Hoằng Hóa (Thanh Hóa) rộng 2,5ha trước đây được một hộ dân nhận trồng lúa, năng suất vụ xuân không nổi 2 tạ/sào (500m2). Do hiệu quả kinh tế thấp nên chủ cũ bỏ mặc cho cói mọc um tùm.
Nhận thấy tiềm năng nuôi trồng thủy sản trên vùng đất này, ông Long bàn với vợ thuê lại, cải tạo, làm kinh tế trang trại. Sau khi thuê được đất, ông đào 3 ao với tổng diện tích gần 2ha nuôi các loại cá thương phẩm như rô phi đơn tính, trắm cỏ, mè, trôi…
Theo ông Long, sở dĩ ông nuôi nhiều loại cá trong cùng một ao là vì mỗi loại cá có tầng sinh sống, tìm kiếm thức ăn riêng. Chúng sẽ không bỏ phí nguồn thức ăn người nuôi thả xuống. Ngoài thức ăn công nghiệp, ông tận dụng lượng cỏ từ bờ ao, vùng trồng thanh long cắt cho cá ăn.

Vì thế, vườn thanh long của gia đình ông không sử dụng thuốc diệt cỏ, vừa đảm bảo an toàn, lại tận dụng được nguồn thức ăn cho cá. Chất lượng cá từ ao nuôi của ông Long vì thế cũng thơm ngon hơn nuôi hoàn toàn bằng thức ăn công nghiệp.
Đến kỳ thu hoạch, tư thương vào tận ao thu mua, ông không phải đem đi nhập như nhiều hộ nuôi khác. Từ con cá, trừ chi phí, mỗi năm gia đình thu về gần 150 triệu đồng. Vài năm lại đây, ông Long đầu tư nuôi thêm một vụ tôm thẻ chân trắng quảng canh, lãi thêm 60 triệu.
Theo ông Long, tôm thẻ chân trắng rất khó tính nên cần đặc biệt chú ý để phát hiện, phòng trừ dịch bệnh. Tốt nhất nên nuôi xen 1 năm, sau đó nuôi năm tiếp theo hoàn toàn bằng thủy sản nước ngọt rồi lại quay về chu kỳ nuôi xen canh.
Diện tích còn lại, ông trồng 700 trụ thanh long ruột đỏ, 250 gốc bưởi da xanh. Có lẽ ông Long là người đầu tiên ở vùng đất này đem thanh long ruột đỏ về trồng. Cung không đủ cầu nên quả chưa chín tư thương đã đến đặt tiền cọc mua. Tính ra, từ cây thanh long, ông lãi ròng gần 200 triệu đồng/năm. Từ một vùng đất gần như hoang hóa, mô hình của ông Long đem về nguồn lợi nhuận gần 500 triệu đồng/năm.

Thế nhưng, cũng như bao chủ trang trại chăn nuôi tổng hợp khác, gia đình ông Long phải trải qua một giai đoạn hết sức khó khăn. Đó là khi giá lợn hơi chạm đáy, ông tưởng như mình sẽ không thể vực dậy nổi.
Bà Tống Thị Hà, Trạm phó Trạm Khuyến Nông huyện Hoằng Hóa cho biết: “Nếu cách đây 2 năm anh đến thăm trang trại của ông Long sẽ thấy một cảnh tượng buồn bã. Thời điểm ấy, trong chuồng nuôi lúc nào cũng có đến vài trăm con lợn thịt. Món nợ ngân hàng, nợ tiền cám lớn lên từng ngày trong khi giá lợn chạm đáy lại không thể xuất bán khiến ông Long đứng ngồi không yên. Nhưng nhờ có nghị lực và cách làm lấy ngắn nuôi dài, sau lần ấy ông đã gượng dậy và tiếp tục phát triển trang trại như bây giờ. Đến nay, có thể nói đây là một trong những trang trại làm ăn tốt nhất huyện Hoằng Hóa”.
Nói về quãng thời gian gian khổ, ông Long chia sẻ: “Thời điểm ấy, nếu không lấy ngắn nuôi dài, nếu không có vườn thanh long, ao cá, 70 cặp bồ câu, 40 đàn ong thì tôi “chết chắc”. Làm trang trại bây giờ cũng chẳng khác gì đánh bạc với trời. Nếu chỉ độc canh hay nuôi 1 đối tượng thì khó khăn lắm! Tôi vẫn tái đàn lợn nhưng sẽ cẩn trọng hơn những lần trước, vừa vào đàn nhưng cũng phải vừa thường xuyên nghe ngóng thị trường”.
Bà Nguyễn Thị Thủy, vợ ông Long: “70 cặp bồ câu, nuôi chơi chơi thế chứ mỗi năm cũng đem về trên 40 triệu đồng đấy. Còn 40 tổ ong, chí ít cũng thu về trên dưới 100 triệu nữa. Chừng ấy tuy không nhiều nhưng những lúc gian khó như thời gian qua mới thực sự thấy quý hóa. Làm ăn kinh tế, nếu không chịu khó tận dụng, nếu chỉ biết đổ tiền vào đầu tư với mong muốn nhanh kiếm được lợi nhuận thì “sập” như chơi”.

DKT Biotech-VET- Mô hình nuôi trồng tổng hợp thành công trên vùng đất nhiễm mặn xứ Thanh

Năm 2010, sau nhiều năm tha phương cầu thực, ông Lê Văn Long trở về quê thuê đất làm trang trại. Trên vùng nhiễm mặn, ông đào ao thả cá, xây chuồng trại, trồng thanh long, nuôi tôm… cho lãi ròng mỗi năm gần 500 triệu đồng.
Vùng đất nhiễm mặn tại thôn Đạo Lý, xã Hoằng Đạo, huyện Hoằng Hóa (Thanh Hóa) rộng 2,5ha trước đây được một hộ dân nhận trồng lúa, năng suất vụ xuân không nổi 2 tạ/sào (500m2). Do hiệu quả kinh tế thấp nên chủ cũ bỏ mặc cho cói mọc um tùm.
Nhận thấy tiềm năng nuôi trồng thủy sản trên vùng đất này, ông Long bàn với vợ thuê lại, cải tạo, làm kinh tế trang trại. Sau khi thuê được đất, ông đào 3 ao với tổng diện tích gần 2ha nuôi các loại cá thương phẩm như rô phi đơn tính, trắm cỏ, mè, trôi…
Theo ông Long, sở dĩ ông nuôi nhiều loại cá trong cùng một ao là vì mỗi loại cá có tầng sinh sống, tìm kiếm thức ăn riêng. Chúng sẽ không bỏ phí nguồn thức ăn người nuôi thả xuống. Ngoài thức ăn công nghiệp, ông tận dụng lượng cỏ từ bờ ao, vùng trồng thanh long cắt cho cá ăn.

Vì thế, vườn thanh long của gia đình ông không sử dụng thuốc diệt cỏ, vừa đảm bảo an toàn, lại tận dụng được nguồn thức ăn cho cá. Chất lượng cá từ ao nuôi của ông Long vì thế cũng thơm ngon hơn nuôi hoàn toàn bằng thức ăn công nghiệp.
Đến kỳ thu hoạch, tư thương vào tận ao thu mua, ông không phải đem đi nhập như nhiều hộ nuôi khác. Từ con cá, trừ chi phí, mỗi năm gia đình thu về gần 150 triệu đồng. Vài năm lại đây, ông Long đầu tư nuôi thêm một vụ tôm thẻ chân trắng quảng canh, lãi thêm 60 triệu.
Theo ông Long, tôm thẻ chân trắng rất khó tính nên cần đặc biệt chú ý để phát hiện, phòng trừ dịch bệnh. Tốt nhất nên nuôi xen 1 năm, sau đó nuôi năm tiếp theo hoàn toàn bằng thủy sản nước ngọt rồi lại quay về chu kỳ nuôi xen canh.
Diện tích còn lại, ông trồng 700 trụ thanh long ruột đỏ, 250 gốc bưởi da xanh. Có lẽ ông Long là người đầu tiên ở vùng đất này đem thanh long ruột đỏ về trồng. Cung không đủ cầu nên quả chưa chín tư thương đã đến đặt tiền cọc mua. Tính ra, từ cây thanh long, ông lãi ròng gần 200 triệu đồng/năm. Từ một vùng đất gần như hoang hóa, mô hình của ông Long đem về nguồn lợi nhuận gần 500 triệu đồng/năm.

Thế nhưng, cũng như bao chủ trang trại chăn nuôi tổng hợp khác, gia đình ông Long phải trải qua một giai đoạn hết sức khó khăn. Đó là khi giá lợn hơi chạm đáy, ông tưởng như mình sẽ không thể vực dậy nổi.
Bà Tống Thị Hà, Trạm phó Trạm Khuyến Nông huyện Hoằng Hóa cho biết: “Nếu cách đây 2 năm anh đến thăm trang trại của ông Long sẽ thấy một cảnh tượng buồn bã. Thời điểm ấy, trong chuồng nuôi lúc nào cũng có đến vài trăm con lợn thịt. Món nợ ngân hàng, nợ tiền cám lớn lên từng ngày trong khi giá lợn chạm đáy lại không thể xuất bán khiến ông Long đứng ngồi không yên. Nhưng nhờ có nghị lực và cách làm lấy ngắn nuôi dài, sau lần ấy ông đã gượng dậy và tiếp tục phát triển trang trại như bây giờ. Đến nay, có thể nói đây là một trong những trang trại làm ăn tốt nhất huyện Hoằng Hóa”.
Nói về quãng thời gian gian khổ, ông Long chia sẻ: “Thời điểm ấy, nếu không lấy ngắn nuôi dài, nếu không có vườn thanh long, ao cá, 70 cặp bồ câu, 40 đàn ong thì tôi “chết chắc”. Làm trang trại bây giờ cũng chẳng khác gì đánh bạc với trời. Nếu chỉ độc canh hay nuôi 1 đối tượng thì khó khăn lắm! Tôi vẫn tái đàn lợn nhưng sẽ cẩn trọng hơn những lần trước, vừa vào đàn nhưng cũng phải vừa thường xuyên nghe ngóng thị trường”.
Bà Nguyễn Thị Thủy, vợ ông Long: “70 cặp bồ câu, nuôi chơi chơi thế chứ mỗi năm cũng đem về trên 40 triệu đồng đấy. Còn 40 tổ ong, chí ít cũng thu về trên dưới 100 triệu nữa. Chừng ấy tuy không nhiều nhưng những lúc gian khó như thời gian qua mới thực sự thấy quý hóa. Làm ăn kinh tế, nếu không chịu khó tận dụng, nếu chỉ biết đổ tiền vào đầu tư với mong muốn nhanh kiếm được lợi nhuận thì “sập” như chơi”.
Đọc thêm
Những bài thuốc dân gian chữa bệnh thường gặp ở lợn hiệu quả mà không tốn kém chi phí
Chướng bụng đầy hơi
Khi lợn bị chướng bụng đầy hơi có thể lựa chọn một trong những bài thuốc sau:
- Lá Thị 50-60g, giã nát hòa với nữa bát nước, vắt bỏ bã rồi cho lợn uống, bã dùng xoa vòa hậu môn của lợn.
- Dùng 1-2 củ Tỏi + 1 củ Gừng (3-4g), giã nhuyễn hãm với nước ấm cho lợn uống.
- Lấy 2-3 củ Tỏi + 1 củ Gừng (bằng 2 ngón tay), giã nhuyễn hòa với 1 ít dầu hỏa hoặc rượu trắng (1 nữa chén), xoa vòa bụng.
- Lấy 3-4 lá Trầu không giã nhỏ, hòa với nữa chén rượu trắng, xoa vào 2 bên thành bụng.
- Bồ kết khô 5-10 quả đốt ở cửa chuồng (đầu hướng gió), cho lợn ngửi.

Bệnh Phó thương hàn
Phòng bệnh: sắc lấy nước cho uống. Dùng một trong số các bài thuốc sau:
- Lá lốt (50g) + lá xoài (20g)
- Lá ngãi cứu (30g) + lá sả (50g)
Trị bệnh: sắc lấy nước cho uống. Dùng một trong số các bài thuốc sau:
- Xuyên tâm liên (16g) + kim ngân (12g) + trắc bá diệp (16g) + ngãi cứu (12g)
- Lá lốt (20g) + lá móng (16g) + lá sả (30g) + lá thông (16g)
- Lá sen cạn (20g) + cây chó đẻ (50g) + lá tràm (20g) + tô mộc (12g)
- Kinh giới (12g) + táo (5 trái) + quế chi (10g) + gừng sống (10g)


Bệnh tiêu chảy
* Khi lợn con bị tiêu chảy có thể sử dụng các bài thuốc sau đây:
-Cho lợn con và lợn mẹ ăn các loại lá có vị chát như: Lá ổi, lá sim, lá phổ sâm, lá chuối lùn…
* Trị tiêu chảy phân trắng heo con
Dùng một trong số các cách sau:
- Cây ba chẽ (20g) + chó đẻ răng cưa (30g) + lá hẹ (30g) + hương nhu (16g): sắc lấy nước cho uống
- Lá lốt (30g) + ngãi cứu (20g) + lá sả (30g) + lá xoài (20g): sắc lấy nước cho uống
- Lá chùm ngây (50g) + rau diếp cá (50g) + lá tràm (16g) + lá vối (20g): sắc lấy nước cho uống
- Rễ cỏ xước khô (500g) + gừng tươi (50g): sắc lấy nước cho uống
- Gừng (2g) + tỏi (5g) + lá đu đủ (10g) : sắc lấy nước cho uống
Trị kiết lỵ
- Lá cây ô rô (200g) + đọt ổi (50g): sắc lấy nước cho uống
- Lá mơ lông (300g) + củ cây gai (100g): sắc lấy nước cho uống 
- Rau sam tươi (100g) + cỏ sữa tươi (100g) + cỏ mực (20g): sắc lấy nước cho uống

Bệnh táo bón ở lợn:
  Khi lợn bị táo bón có thể dùng một trong những bài thuốc sau:
- Khoai lang củ, lá, ngọn, dây khoai lang (không hạn chế liều lượng) nấu chín cho ăn 2-3 ngày liền.
- Lá Tầm mại (Lộc mại) 50-60g giã nát, hòa với một bát nước ấm (200cc) cho uống. Ngày uống 2 lần.
- Quả Bồ kết 1-2 quả, nướng vàng (chưa cháy đen), đun với 2 bát nước (400cc), đun sôi 2-3 phút, gạt bỏ bã lấy nước, thụt vào hậu môn. Mỗi lần thụt nữa bát (100cc), ngày thụt 2 lần.

Bệnh Tụ huyết trùng
Phòng bệnh: sắc lấy nước cho uống. Dùng một trong số các bài thuốc sau:
- Kim ngân (20g) + mã đề (50g)
- Diếp cá (100g) + rau ngót (50g)
Tri bệnh: sắc lấy nước cho uống. Dùng một trong số các bài thuốc sau:
- Cỏ mực (16g) + xuyên tâm liên (16g) + tang bạch bì (12g) + lá kim giao (12g) + quyển bá xanh lục (16g) + ý dĩ (12g)
- Tỏi (50g) + cam thảo (30g)

DKT Biotech-VET- Chữa bệnh thường gặp ở lợn bằng bài thuốc dân gian

Những bài thuốc dân gian chữa bệnh thường gặp ở lợn hiệu quả mà không tốn kém chi phí
Chướng bụng đầy hơi
Khi lợn bị chướng bụng đầy hơi có thể lựa chọn một trong những bài thuốc sau:
- Lá Thị 50-60g, giã nát hòa với nữa bát nước, vắt bỏ bã rồi cho lợn uống, bã dùng xoa vòa hậu môn của lợn.
- Dùng 1-2 củ Tỏi + 1 củ Gừng (3-4g), giã nhuyễn hãm với nước ấm cho lợn uống.
- Lấy 2-3 củ Tỏi + 1 củ Gừng (bằng 2 ngón tay), giã nhuyễn hòa với 1 ít dầu hỏa hoặc rượu trắng (1 nữa chén), xoa vòa bụng.
- Lấy 3-4 lá Trầu không giã nhỏ, hòa với nữa chén rượu trắng, xoa vào 2 bên thành bụng.
- Bồ kết khô 5-10 quả đốt ở cửa chuồng (đầu hướng gió), cho lợn ngửi.

Bệnh Phó thương hàn
Phòng bệnh: sắc lấy nước cho uống. Dùng một trong số các bài thuốc sau:
- Lá lốt (50g) + lá xoài (20g)
- Lá ngãi cứu (30g) + lá sả (50g)
Trị bệnh: sắc lấy nước cho uống. Dùng một trong số các bài thuốc sau:
- Xuyên tâm liên (16g) + kim ngân (12g) + trắc bá diệp (16g) + ngãi cứu (12g)
- Lá lốt (20g) + lá móng (16g) + lá sả (30g) + lá thông (16g)
- Lá sen cạn (20g) + cây chó đẻ (50g) + lá tràm (20g) + tô mộc (12g)
- Kinh giới (12g) + táo (5 trái) + quế chi (10g) + gừng sống (10g)


Bệnh tiêu chảy
* Khi lợn con bị tiêu chảy có thể sử dụng các bài thuốc sau đây:
-Cho lợn con và lợn mẹ ăn các loại lá có vị chát như: Lá ổi, lá sim, lá phổ sâm, lá chuối lùn…
* Trị tiêu chảy phân trắng heo con
Dùng một trong số các cách sau:
- Cây ba chẽ (20g) + chó đẻ răng cưa (30g) + lá hẹ (30g) + hương nhu (16g): sắc lấy nước cho uống
- Lá lốt (30g) + ngãi cứu (20g) + lá sả (30g) + lá xoài (20g): sắc lấy nước cho uống
- Lá chùm ngây (50g) + rau diếp cá (50g) + lá tràm (16g) + lá vối (20g): sắc lấy nước cho uống
- Rễ cỏ xước khô (500g) + gừng tươi (50g): sắc lấy nước cho uống
- Gừng (2g) + tỏi (5g) + lá đu đủ (10g) : sắc lấy nước cho uống
Trị kiết lỵ
- Lá cây ô rô (200g) + đọt ổi (50g): sắc lấy nước cho uống
- Lá mơ lông (300g) + củ cây gai (100g): sắc lấy nước cho uống 
- Rau sam tươi (100g) + cỏ sữa tươi (100g) + cỏ mực (20g): sắc lấy nước cho uống

Bệnh táo bón ở lợn:
  Khi lợn bị táo bón có thể dùng một trong những bài thuốc sau:
- Khoai lang củ, lá, ngọn, dây khoai lang (không hạn chế liều lượng) nấu chín cho ăn 2-3 ngày liền.
- Lá Tầm mại (Lộc mại) 50-60g giã nát, hòa với một bát nước ấm (200cc) cho uống. Ngày uống 2 lần.
- Quả Bồ kết 1-2 quả, nướng vàng (chưa cháy đen), đun với 2 bát nước (400cc), đun sôi 2-3 phút, gạt bỏ bã lấy nước, thụt vào hậu môn. Mỗi lần thụt nữa bát (100cc), ngày thụt 2 lần.

Bệnh Tụ huyết trùng
Phòng bệnh: sắc lấy nước cho uống. Dùng một trong số các bài thuốc sau:
- Kim ngân (20g) + mã đề (50g)
- Diếp cá (100g) + rau ngót (50g)
Tri bệnh: sắc lấy nước cho uống. Dùng một trong số các bài thuốc sau:
- Cỏ mực (16g) + xuyên tâm liên (16g) + tang bạch bì (12g) + lá kim giao (12g) + quyển bá xanh lục (16g) + ý dĩ (12g)
- Tỏi (50g) + cam thảo (30g)
Đọc thêm
Nuôi thả thủy sản trong ao nổi được đánh giá là một phương pháp mới, khắc phục các nhược điểm của ao đất truyền thống. Mặc dù thời gian áp dụng chưa dài nhưng kết quả bước đầu đã khẳng định được nhiều ưu thế nổi trội như không phá vỡ hiện trạng đồng ruộng, giảm chi phí nuôi, hạn chế dịch hại và cho năng suất cao. Không dừng lại ở đó, nhiều hộ nuôi thả thủy sản với diện tích lớn còn ứng dụng công nghệ sinh học để nuôi theo hướng bền vững, hạn chế ô nhiễm môi trường.
Ông Nguyễn Văn Khôi ở thôn Kim Đôi, xã Ngọc Kỳ, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương là một điển hình đã mạnh dạn ứng dụng công nghệ sinh học trong nuôi thả thủy sản ở ao nổi. Bắt đầu nuôi thả thủy sản cách đây gần 30 năm. Ban đầu cũng giống như nhiều hộ nuôi thủy sản khác, với 02 mẫu ao ông nuôi cá theo phương pháp truyền thống, sau đó chuyển sang nuôi chuyên canh con rô phi, tuy nhiên hiệu quả mang lại không cao do diện tích nhỏ, dịch bệnh nhiều, giá thành bấp bênh. Bởi vậy cách đây 8 năm, ông đã mạnh dạn đầu tư thêm diện tích kết hợp cải tạo khu đồng trũng để xây dựng trang trại nuôi thả thủy sản tập trung, với diện tích 25 mẫu và nuôi theo phương pháp ao nổi. Đối tượng nuôi trong các ao nổi chủ yếu là cá trắm, trôi, chép và cá rô các loại.
Không chỉ dừng lại ở phương pháp nuôi thủy sản trong ao nổi, ông Khôi còn nghiên cứu ứng dụng công nghệ sinh học để xử lý môi trường trong quá trình nuôi thả thủy sản, nhằm hạn chế dịch bệnh và khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường nước ở ao nuôi nội đồng hiện nay. Để áp dụng công nghệ này ông đã phải đi học hỏi kinh nghiệm ở nhiều nơi trong nước cũng như một số nước trong khu vực như Thái Lan,  Indonesia, Malaysia, ... Theo ông, để áp dụng phương pháp mới này và cho hiệu quả cao cần thiết phải đảm bảo các yếu tố: con giống khỏe, sạch bệnh; xử lý môi trường ô nhiễm bằng cách sử dụng chế phẩm để diệt mầm bệnh có trong ao nuôi một cách an toàn, không gây độc đối với đối tượng nuôi trồng, làm cho môi trường nước ổn định; dinh dưỡng hợp lý. Từ thực tế đó, ông lại bắt tay tìm tòi nguồn con giống tốt và sử dụng công nghệ nano bạc trong xử lý phòng và trị bệnh cho cá.

Do kết hợp giữa kinh nghiệm và khoa học kỹ thuật nên chất lượng cá giống của gia đình ông rất tốt. Cá bột, cá hương sau khi được nhập về đều được ông xử lý trong bể nano trong thời gian 21 ngày; sau đó đưa ra ngoài ao ương chăm sóc khoảng 30 ngày trước khi xuất bán. Tiếng lành đồn xa, hiện tại thị trường cung ứng cá giống của gia đình ông từ Thừa Thiên Huế ngược ra toàn miền Bắc. Đặc biệt con giống chép lai Việt - Thái đã trở thành thương hiệu của gia đình như khả năng kháng bệnh tốt, hình thái đẹp, nuôi sau 10 tháng trọng lượng đạt từ 3, 5 – 4 kg. Mỗi năm gia đình ông xuất bán 300 – 400 vạn chép lai, 100 vạn cá rô và trắm các loại, cùng với 100 nghìn tấn cá thương phẩm. Sau khi trừ chi phí, mỗi năm trang trại cho lãi trên 1 tỷ đồng.
Với hiệu quả từ phương pháp nuôi thủy sản trong ao nổi và ứng dụng công nghệ sinh học, hiện nay nhiều nông dân trên địa bàn tỉnh đã chuyển đổi đất ruộng trũng cấy lúa kém hiệu quả sang nuôi trồng thủy sản theo phương pháp này.
Ông Phạm Văn Tình - Chi cục trưởng Chi cục Thủy sản tỉnh cho biết: Đến nay, toàn tỉnh đã có gần 200 ha ao nổi, trong đó có khoảng 20% diện tích ao nổi ứng dụng công nghệ sinh học trong xử lý nước và môi trường ao nuôi. Việc ứng dụng công nghệ sinh học trong nuôi thả thủy sản đã hạn chế tối đa dịch bệnh phát sinh, đặc biệt là vi sinh vật đơn bào gây bệnh (nấm, vi khuẩn, virus), đảm bảo cho thủy sản được phát triển trong một môi trường thuận lợi nhất, qua đó giảm chi phí quản lý dịch bệnh. Tuy vậy khi xử lý môi trường nước cần phải lựa chọn những dòng sản phẩm sạch, an toàn và quan trọng hơn là không gây ảnh hưởng tiêu cực tới thủy sản, từ đó tạo ra nguồn nước trong ao sạch hơn, cá ăn khỏe hơn nên có thể nuôi với mật độ dày hơn. Và để tiếp tục nhân rộng các mô hình nuôi thả thủy sản trên ao nổi ứng dụng công nghệ sinh học, thời gian tới Chi cục Thủy sản đẩy mạnh công tác tuyên truyền và chuyển giao công nghệ cho các hộ nuôi trên địa bàn tỉnh.

DKT Biotech-VET- Ứng dụng công nghệ sinh học nuôi thủy sản ở ao nổi thành công

Nuôi thả thủy sản trong ao nổi được đánh giá là một phương pháp mới, khắc phục các nhược điểm của ao đất truyền thống. Mặc dù thời gian áp dụng chưa dài nhưng kết quả bước đầu đã khẳng định được nhiều ưu thế nổi trội như không phá vỡ hiện trạng đồng ruộng, giảm chi phí nuôi, hạn chế dịch hại và cho năng suất cao. Không dừng lại ở đó, nhiều hộ nuôi thả thủy sản với diện tích lớn còn ứng dụng công nghệ sinh học để nuôi theo hướng bền vững, hạn chế ô nhiễm môi trường.
Ông Nguyễn Văn Khôi ở thôn Kim Đôi, xã Ngọc Kỳ, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương là một điển hình đã mạnh dạn ứng dụng công nghệ sinh học trong nuôi thả thủy sản ở ao nổi. Bắt đầu nuôi thả thủy sản cách đây gần 30 năm. Ban đầu cũng giống như nhiều hộ nuôi thủy sản khác, với 02 mẫu ao ông nuôi cá theo phương pháp truyền thống, sau đó chuyển sang nuôi chuyên canh con rô phi, tuy nhiên hiệu quả mang lại không cao do diện tích nhỏ, dịch bệnh nhiều, giá thành bấp bênh. Bởi vậy cách đây 8 năm, ông đã mạnh dạn đầu tư thêm diện tích kết hợp cải tạo khu đồng trũng để xây dựng trang trại nuôi thả thủy sản tập trung, với diện tích 25 mẫu và nuôi theo phương pháp ao nổi. Đối tượng nuôi trong các ao nổi chủ yếu là cá trắm, trôi, chép và cá rô các loại.
Không chỉ dừng lại ở phương pháp nuôi thủy sản trong ao nổi, ông Khôi còn nghiên cứu ứng dụng công nghệ sinh học để xử lý môi trường trong quá trình nuôi thả thủy sản, nhằm hạn chế dịch bệnh và khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường nước ở ao nuôi nội đồng hiện nay. Để áp dụng công nghệ này ông đã phải đi học hỏi kinh nghiệm ở nhiều nơi trong nước cũng như một số nước trong khu vực như Thái Lan,  Indonesia, Malaysia, ... Theo ông, để áp dụng phương pháp mới này và cho hiệu quả cao cần thiết phải đảm bảo các yếu tố: con giống khỏe, sạch bệnh; xử lý môi trường ô nhiễm bằng cách sử dụng chế phẩm để diệt mầm bệnh có trong ao nuôi một cách an toàn, không gây độc đối với đối tượng nuôi trồng, làm cho môi trường nước ổn định; dinh dưỡng hợp lý. Từ thực tế đó, ông lại bắt tay tìm tòi nguồn con giống tốt và sử dụng công nghệ nano bạc trong xử lý phòng và trị bệnh cho cá.

Do kết hợp giữa kinh nghiệm và khoa học kỹ thuật nên chất lượng cá giống của gia đình ông rất tốt. Cá bột, cá hương sau khi được nhập về đều được ông xử lý trong bể nano trong thời gian 21 ngày; sau đó đưa ra ngoài ao ương chăm sóc khoảng 30 ngày trước khi xuất bán. Tiếng lành đồn xa, hiện tại thị trường cung ứng cá giống của gia đình ông từ Thừa Thiên Huế ngược ra toàn miền Bắc. Đặc biệt con giống chép lai Việt - Thái đã trở thành thương hiệu của gia đình như khả năng kháng bệnh tốt, hình thái đẹp, nuôi sau 10 tháng trọng lượng đạt từ 3, 5 – 4 kg. Mỗi năm gia đình ông xuất bán 300 – 400 vạn chép lai, 100 vạn cá rô và trắm các loại, cùng với 100 nghìn tấn cá thương phẩm. Sau khi trừ chi phí, mỗi năm trang trại cho lãi trên 1 tỷ đồng.
Với hiệu quả từ phương pháp nuôi thủy sản trong ao nổi và ứng dụng công nghệ sinh học, hiện nay nhiều nông dân trên địa bàn tỉnh đã chuyển đổi đất ruộng trũng cấy lúa kém hiệu quả sang nuôi trồng thủy sản theo phương pháp này.
Ông Phạm Văn Tình - Chi cục trưởng Chi cục Thủy sản tỉnh cho biết: Đến nay, toàn tỉnh đã có gần 200 ha ao nổi, trong đó có khoảng 20% diện tích ao nổi ứng dụng công nghệ sinh học trong xử lý nước và môi trường ao nuôi. Việc ứng dụng công nghệ sinh học trong nuôi thả thủy sản đã hạn chế tối đa dịch bệnh phát sinh, đặc biệt là vi sinh vật đơn bào gây bệnh (nấm, vi khuẩn, virus), đảm bảo cho thủy sản được phát triển trong một môi trường thuận lợi nhất, qua đó giảm chi phí quản lý dịch bệnh. Tuy vậy khi xử lý môi trường nước cần phải lựa chọn những dòng sản phẩm sạch, an toàn và quan trọng hơn là không gây ảnh hưởng tiêu cực tới thủy sản, từ đó tạo ra nguồn nước trong ao sạch hơn, cá ăn khỏe hơn nên có thể nuôi với mật độ dày hơn. Và để tiếp tục nhân rộng các mô hình nuôi thả thủy sản trên ao nổi ứng dụng công nghệ sinh học, thời gian tới Chi cục Thủy sản đẩy mạnh công tác tuyên truyền và chuyển giao công nghệ cho các hộ nuôi trên địa bàn tỉnh.
Đọc thêm
Mỗi loài động vật có một bộ máy tiêu hoá khác nhau vì vậy các loại thức ăn dùng cho cũng khác nhau, bà con tận dụng đặc điểm này tạo nguồn thức ăn cho trâu bò
Khác với ngựa, lợn, chó và người, trâu bò thuộc loài nhai lại. Dạ dày trâu, bò chia làm bốn ngăn; dạ cỏ, dạ tổ ong, dạ lá sách (ba ngăn này gọi chung là dạ dày trước) và dạ múi khế (gọi là dạ dày thực, có các tuyến tiêu hoá như các loài động vật dạ dày đơn).

Khi bê, nghé mới sinh dạ cỏ rất nhỏ, thậm chí còn nhỏ hơn dạ tổ ong. Cùng với quá trình tiêu hoá thức ăn thô, dạ cỏ phát triển mạnh và khi trâu bò trưởng thành dung tích dạ cỏ rất lớn, khoảng 100 – 200 lít và chiếm tới 80% dung tích của toàn bộ dạ dày. Ở trâu bò trưởng thành, trong các ngăn, dạ cỏ là ngăn lớn nhất, sau đó là dạ lá sách và dạ múi khế (hai túi này có dung tích tương đương nhau) và cuối cùng dạ tổ ong là bé nhất.
Dạ cỏ là trung tâm tiêu hoá quan trọng bậc nhất của loài nhai lại. Quá trinh tiêu hoá trong dạ cỏ quyết định đến năng suất thịt, sữa của gia súc nhai lại. Dạ cỏ không tiết dịch tiêu hoá và axít chlohydric mà ở đây diễn ra quá trình tiêu hoá nhờ lên men vi sinh vật. Người ta ví dạ cỏ như một thùng lên men lớn. Những vi sinh vật sống trong dạ cỏ là những vi sinh vật có lợi, không gây độc hại cho gia súc. Chúng được cảm nhiễm từ bên ngoài vào (qua thức ăn, nước uống và truyền từ trâu, bò trưởng thành sang bê, nghé). Vi sinh vật sống và phát triển mạnh được trong dạ cỏ là nhờ lại đây có các điều kiện thích hợp về nhiệt độ, độ ẩm, môi trường yếm khí và nguồn dinh dưỡng dồi dào.
Chủng loại vi sinh vật dạ cỏ rất phong phú và thuộc về 3 nhóm chính là vi khuẩn, động vật nguyên sinh và nấm. Số lượng vi sinh vật dạ cỏ rất lớn, ước tính trong 1 ml dung dịch dạ cỏ có từ 25 đến 50 tỷ vi khuẩn và từ 200 ngàn đến 500 ngàn động vật nguyên sinh.


Vai trò của vi sinh vật dạ cỏ:
– Các vi sinh vật tổng hợp nên các chất dinh dưỡng cho gia súc nhai lại trong mối quan hệ cộng sinh. Chúng tổng hợp tất cả các vitamin nhóm B, vitamin K và tất cả các axít amin thiết yếu. Thậm chí chúng có khả năng sử dụng những hợp chất nitơ phi protein như urê, những chất chứa nitơ khác và tạo thành những chất dinh dưỡng có giá trị sinh học cao.
– Giúp trâu bò có thể tiêu hoá được chất xơ và các thức ăn thô. Chúng biến đổi xơ (chủ yếu là xenluloza) và các chất bột đường thành các axít hữu cơ (các axít béo bay hơi) như: axít acetic, axít propionic, axít butyric. Các axít này nhanh chóng được hấp thu qua thành dạ cô và cung cấp cho loài nhai lại 60 – 80% nhu cầu năng lượng.
Giữa các loài vi sinh vật có quan hệ cộng sinh và có sự phân chia chức năng hết sức chặt chẽ. Sản phẩm phân giải các chất trong thức ăn của một loài này lại là chất dinh dưỡng cho một loài khác. Chính vì vậy, nếu một nhóm vi sinh vật nào đó không có được những điều kiện thích hợp để phát triển (ví dụ khẩu phần mất cân đối các chất dinh dưỡng) thì chúng sẽ bị chết dần đi. Điều đó dẫn tới sự thay đổi thành phần của nhiều nhóm vi sinh vật khác. Kết quả là các quá trình tiêu hoá thức ăn bị rối loạn và chắc chắn ảnh hưởng xấu đến tình trạng sức khoẻ cũng như năng suất của gia súc nhai lại.
Như vậy, thực chất nuôi dưỡng loài nhai lại là nuôi dưỡng các khu hệ vi sinh vật dạ cỏ, là cung cấp và tạo cho chúng những điều kiện tối ưu để phát triển và sinh sôi, nảy nở.

Sự nhai lại
Sau khi vào miệng, thức ăn được trâu bò nhai và thấm nước bọt rồi được nuốt xuống dạ cỏ. Khoảng 20 – 30 phút sau khi ăn, bắt đầu quá trình nhai lại. Nhai lại là hoạt động sinh lý bình thường ở trâu bò. Đó là quá trình miếng thức ăn được ợ từ dạ cỏ lên miệng và tại đây, trong vòng một phút, nó được nhai nghiền mịn, trộn lẫn với nước bọt và rồi được nuốt trở lại. Trong một ngày đêm trâu bò nhai lại 7 – 10 lần, mỗi lần 40 – 50 phút và tổng thời gian nhai lại trong một ngày đêm là khoảng 7 – 8 giờ, trong đó có tính cả các đợt nghỉ ngơi xen kẽ. Thời gian nhai lại dài ngắn tuỳ thuộc vào loại thức ăn trong khẩu phần. Thông thường, trâu bò cần 30 phút để nhai cỏ khô và cần 60 phút để nhai rơm rạ. Trong khi đó, chúng chỉ tốn từ 5 đến 10 phút để nhai thức ăn tinh và 20 phút đối với thức ăn ủ chua từ cây ngô.
Để trâu bò nhai lại được tốt, cần bảo đảm cho chúng ở trong trạng thái hoàn toàn yên tĩnh. Bất kỳ một hành động gây xáo trộn nào đều có thể làm gián đoạn quá trình nhai lại.
Nhờ nhai lại, các miếng thức ăn to dày đều được nghiền nhỏ, mịn. Cùng với sự phân giải vi sinh vật trong thời gian thức ăn lưu lại ở dạ cỏ, độ bền của thành tế bào các loại thức ăn bị giảm và phá huỷ, các thành phần dinh dưỡng được giải phóng dần, các phần thức ăn chìm sâu dần xuống phần dưới túi bụng dạ cỏ. Và từ đây, chúng được đẩy tới dạ tổ ong và sau đó tới lỗ thông giữa dạ tổ ong và dạ lá sách. Việc vơi dần lượng chất chứa trong dạ cỏ tạo điều kiện cho trâu bò tiếp tục thu nhận thức ăn và tiêu hoá các phần thức ăn mới. 
Sự ợ hơi Trong quá trình tiêu hoá thức ăn, một lượng lớn các chất khí (chủ yếu là khí mêtan-CH4 và khí carbonic-CO2) được hình thành ở dạ cỏ.
Các chất khí này được tích luỹ và đến một mức độ nào đó thì được thải ra. Đó là quá trình ợ hơi. Ợ hơi là một phản xạ thải khí nhờ sự co bóp của thành dạ cỏ. Các chất khí (chủ yếu là khí carbonic) cũng có thể được hấp thu qua thành dạ cỏ vào máu và sau đó được thải qua đường hô hấp.

DKT Biotech-VET- Tìm hiểu đặc điểm bộ máy tiêu hoá của trâu bò

Mỗi loài động vật có một bộ máy tiêu hoá khác nhau vì vậy các loại thức ăn dùng cho cũng khác nhau, bà con tận dụng đặc điểm này tạo nguồn thức ăn cho trâu bò
Khác với ngựa, lợn, chó và người, trâu bò thuộc loài nhai lại. Dạ dày trâu, bò chia làm bốn ngăn; dạ cỏ, dạ tổ ong, dạ lá sách (ba ngăn này gọi chung là dạ dày trước) và dạ múi khế (gọi là dạ dày thực, có các tuyến tiêu hoá như các loài động vật dạ dày đơn).

Khi bê, nghé mới sinh dạ cỏ rất nhỏ, thậm chí còn nhỏ hơn dạ tổ ong. Cùng với quá trình tiêu hoá thức ăn thô, dạ cỏ phát triển mạnh và khi trâu bò trưởng thành dung tích dạ cỏ rất lớn, khoảng 100 – 200 lít và chiếm tới 80% dung tích của toàn bộ dạ dày. Ở trâu bò trưởng thành, trong các ngăn, dạ cỏ là ngăn lớn nhất, sau đó là dạ lá sách và dạ múi khế (hai túi này có dung tích tương đương nhau) và cuối cùng dạ tổ ong là bé nhất.
Dạ cỏ là trung tâm tiêu hoá quan trọng bậc nhất của loài nhai lại. Quá trinh tiêu hoá trong dạ cỏ quyết định đến năng suất thịt, sữa của gia súc nhai lại. Dạ cỏ không tiết dịch tiêu hoá và axít chlohydric mà ở đây diễn ra quá trình tiêu hoá nhờ lên men vi sinh vật. Người ta ví dạ cỏ như một thùng lên men lớn. Những vi sinh vật sống trong dạ cỏ là những vi sinh vật có lợi, không gây độc hại cho gia súc. Chúng được cảm nhiễm từ bên ngoài vào (qua thức ăn, nước uống và truyền từ trâu, bò trưởng thành sang bê, nghé). Vi sinh vật sống và phát triển mạnh được trong dạ cỏ là nhờ lại đây có các điều kiện thích hợp về nhiệt độ, độ ẩm, môi trường yếm khí và nguồn dinh dưỡng dồi dào.
Chủng loại vi sinh vật dạ cỏ rất phong phú và thuộc về 3 nhóm chính là vi khuẩn, động vật nguyên sinh và nấm. Số lượng vi sinh vật dạ cỏ rất lớn, ước tính trong 1 ml dung dịch dạ cỏ có từ 25 đến 50 tỷ vi khuẩn và từ 200 ngàn đến 500 ngàn động vật nguyên sinh.


Vai trò của vi sinh vật dạ cỏ:
– Các vi sinh vật tổng hợp nên các chất dinh dưỡng cho gia súc nhai lại trong mối quan hệ cộng sinh. Chúng tổng hợp tất cả các vitamin nhóm B, vitamin K và tất cả các axít amin thiết yếu. Thậm chí chúng có khả năng sử dụng những hợp chất nitơ phi protein như urê, những chất chứa nitơ khác và tạo thành những chất dinh dưỡng có giá trị sinh học cao.
– Giúp trâu bò có thể tiêu hoá được chất xơ và các thức ăn thô. Chúng biến đổi xơ (chủ yếu là xenluloza) và các chất bột đường thành các axít hữu cơ (các axít béo bay hơi) như: axít acetic, axít propionic, axít butyric. Các axít này nhanh chóng được hấp thu qua thành dạ cô và cung cấp cho loài nhai lại 60 – 80% nhu cầu năng lượng.
Giữa các loài vi sinh vật có quan hệ cộng sinh và có sự phân chia chức năng hết sức chặt chẽ. Sản phẩm phân giải các chất trong thức ăn của một loài này lại là chất dinh dưỡng cho một loài khác. Chính vì vậy, nếu một nhóm vi sinh vật nào đó không có được những điều kiện thích hợp để phát triển (ví dụ khẩu phần mất cân đối các chất dinh dưỡng) thì chúng sẽ bị chết dần đi. Điều đó dẫn tới sự thay đổi thành phần của nhiều nhóm vi sinh vật khác. Kết quả là các quá trình tiêu hoá thức ăn bị rối loạn và chắc chắn ảnh hưởng xấu đến tình trạng sức khoẻ cũng như năng suất của gia súc nhai lại.
Như vậy, thực chất nuôi dưỡng loài nhai lại là nuôi dưỡng các khu hệ vi sinh vật dạ cỏ, là cung cấp và tạo cho chúng những điều kiện tối ưu để phát triển và sinh sôi, nảy nở.

Sự nhai lại
Sau khi vào miệng, thức ăn được trâu bò nhai và thấm nước bọt rồi được nuốt xuống dạ cỏ. Khoảng 20 – 30 phút sau khi ăn, bắt đầu quá trình nhai lại. Nhai lại là hoạt động sinh lý bình thường ở trâu bò. Đó là quá trình miếng thức ăn được ợ từ dạ cỏ lên miệng và tại đây, trong vòng một phút, nó được nhai nghiền mịn, trộn lẫn với nước bọt và rồi được nuốt trở lại. Trong một ngày đêm trâu bò nhai lại 7 – 10 lần, mỗi lần 40 – 50 phút và tổng thời gian nhai lại trong một ngày đêm là khoảng 7 – 8 giờ, trong đó có tính cả các đợt nghỉ ngơi xen kẽ. Thời gian nhai lại dài ngắn tuỳ thuộc vào loại thức ăn trong khẩu phần. Thông thường, trâu bò cần 30 phút để nhai cỏ khô và cần 60 phút để nhai rơm rạ. Trong khi đó, chúng chỉ tốn từ 5 đến 10 phút để nhai thức ăn tinh và 20 phút đối với thức ăn ủ chua từ cây ngô.
Để trâu bò nhai lại được tốt, cần bảo đảm cho chúng ở trong trạng thái hoàn toàn yên tĩnh. Bất kỳ một hành động gây xáo trộn nào đều có thể làm gián đoạn quá trình nhai lại.
Nhờ nhai lại, các miếng thức ăn to dày đều được nghiền nhỏ, mịn. Cùng với sự phân giải vi sinh vật trong thời gian thức ăn lưu lại ở dạ cỏ, độ bền của thành tế bào các loại thức ăn bị giảm và phá huỷ, các thành phần dinh dưỡng được giải phóng dần, các phần thức ăn chìm sâu dần xuống phần dưới túi bụng dạ cỏ. Và từ đây, chúng được đẩy tới dạ tổ ong và sau đó tới lỗ thông giữa dạ tổ ong và dạ lá sách. Việc vơi dần lượng chất chứa trong dạ cỏ tạo điều kiện cho trâu bò tiếp tục thu nhận thức ăn và tiêu hoá các phần thức ăn mới. 
Sự ợ hơi Trong quá trình tiêu hoá thức ăn, một lượng lớn các chất khí (chủ yếu là khí mêtan-CH4 và khí carbonic-CO2) được hình thành ở dạ cỏ.
Các chất khí này được tích luỹ và đến một mức độ nào đó thì được thải ra. Đó là quá trình ợ hơi. Ợ hơi là một phản xạ thải khí nhờ sự co bóp của thành dạ cỏ. Các chất khí (chủ yếu là khí carbonic) cũng có thể được hấp thu qua thành dạ cỏ vào máu và sau đó được thải qua đường hô hấp.
Đọc thêm
Những năm gần đây, người dân trên địa bàn Hà Tĩnh đã bắt đầu chăn nuôi gia cầm quy mô lớn. Đàn gà, vịt được nuôi kết hợp với đào ao thả cá, chăn nuôi gia súc, trồng cây ăn quả và các hoạt động kinh tế khác góp phần tạo việc làm và nâng cao thu nhập cho người nông dân.
Vụ hè thu này trên địa bàn có nhiều diện tích không sản xuất nên anh Nguyễn Danh Sơn ở thôn 3 - Kim Tân, xã Tân Lộc (Lộc Hà) đã đầu tư gần 4.000 con vịt để chăn thả trên cánh đồng trũng gần nhà.
Anh Sơn cho biết: “Lứa này tôi nuôi 4 ngàn con. Sau 2 tháng nuôi, tôi đã xuất bán 3 ngàn con, số còn lại chưa đạt trọng lượng nên để lại nuôi lớn hơn hoặc vịt mái chất lượng tốt giữ lại để nuôi đẻ trứng. Với giá từ 60 - 70 ngàn đồng/con, sau khi trừ chi phí, mỗi con lãi khoảng 15 ngàn đồng. Đây được xem là nguồn thu nhập rất tốt đối với những người nông dân như chúng tôi...”
Cũng như anh Sơn, hàng chục hộ chăn nuôi vịt khác ở Tân Lộc, An Lộc, Ích Hậu... đang đầu tư nuôi vịt quy mô hàng ngàn con để tận dụng nguồn thức ăn rơi vãi và côn trùng trên các cánh đồng trong thời điểm không sản xuất. Tuy nuôi vịt khá vất vả, phải thường xuyên có mặt ngoài đồng nhưng bù lại, các nhà nuôi có thêm nguồn thu nhập khá và có được việc làm lúc nông nhàn thay cho đi làm thuê như trước đây.

Nếu ở những vùng có đồng thấp trũng người dân tập trung nuôi vịt và ngan thì ở các huyện có đồi núi người dân lại lựa chọn nuôi gà. Ông Nguyễn Văn Hoàng ở thôn Khe Năm, xã Sơn Kim 1 (Hương Sơn) chia sẻ: “Để tăng thu nhập, gia đình tôi thường nuôi ở quy mô 500 con gà thịt, 150-300 con gà đẻ trứng mỗi năm cung cấp cho thị trường hàng ngàn con gà, hàng chục ngàn quả trứng chất lượng cao. Nhờ chăm sóc đúng quy trình, ít dịch bệnh, thả ăn trên vùng đồi tự nhiên, chất lượng tốt nên thường được các trường học, đám cưới các gia đình có điều kiện tìm đến mua. Với mức lãi 2.000 đồng/quả trứng và 10 - 15 ngàn đồng/kg gà thịt thì lợi nhuận từ gà không chỉ đủ chi tiêu cho cuộc sống thường ngày mà còn giúp chúng tôi tái đầu tư vào các loại cây, con dài ngày khác...”
Còn bà Mai Thị Huế (65 tuổi) ở thôn Trại Tuần, xã Hương Vĩnh, huyện Hương Khê chia sẻ: "Nhà có vườn đồi nên tôi mua 150 con gà giống, chia làm 3 lứa theo các giai đoạn khác nhau về nuôi. Do gà là vật nuôi gần gũi, giống dễ mua, nguồn thức ăn có thể tận dụng được, dịch bệnh dễ kiểm soát và dễ bán nên tôi chẳng phải lo lắng tìm đầu ra".
Qua khảo sát cho thấy, nếu những loài vật nuôi khác phải đối mặt với nhiều phen lao đao thì những năm gần đây, chăn nuôi gia cầm ở tỉnh ta cơ bản ổn định hoặc tăng trưởng nhẹ. Theo ước tính, tổng đàn gà, vịt trên địa bàn tỉnh hiện đạt khoảng 8,6 triệu con, sản lượng trứng ước đạt trên 270 triệu quả.
Ngoài phát triển về số lượng thì chất lượng đàn gia cầm cũng ngày càng được cải thiện, hình thức nuôi cũng thay đổi theo hướng hàng hóa, tập trung. Tuy không lãi nhiều nhưng chăn nuôi gia cầm đã và đang mang đến nguồn thu nhập ổn định và giúp giải quyết việc làm cho nhiều người dân nông thôn.

DKT Biotech-VET- Người dân Hà Tĩnh có thêm thu nhập nhờ mô hình nuôi gia cầm hiệu quả

Những năm gần đây, người dân trên địa bàn Hà Tĩnh đã bắt đầu chăn nuôi gia cầm quy mô lớn. Đàn gà, vịt được nuôi kết hợp với đào ao thả cá, chăn nuôi gia súc, trồng cây ăn quả và các hoạt động kinh tế khác góp phần tạo việc làm và nâng cao thu nhập cho người nông dân.
Vụ hè thu này trên địa bàn có nhiều diện tích không sản xuất nên anh Nguyễn Danh Sơn ở thôn 3 - Kim Tân, xã Tân Lộc (Lộc Hà) đã đầu tư gần 4.000 con vịt để chăn thả trên cánh đồng trũng gần nhà.
Anh Sơn cho biết: “Lứa này tôi nuôi 4 ngàn con. Sau 2 tháng nuôi, tôi đã xuất bán 3 ngàn con, số còn lại chưa đạt trọng lượng nên để lại nuôi lớn hơn hoặc vịt mái chất lượng tốt giữ lại để nuôi đẻ trứng. Với giá từ 60 - 70 ngàn đồng/con, sau khi trừ chi phí, mỗi con lãi khoảng 15 ngàn đồng. Đây được xem là nguồn thu nhập rất tốt đối với những người nông dân như chúng tôi...”
Cũng như anh Sơn, hàng chục hộ chăn nuôi vịt khác ở Tân Lộc, An Lộc, Ích Hậu... đang đầu tư nuôi vịt quy mô hàng ngàn con để tận dụng nguồn thức ăn rơi vãi và côn trùng trên các cánh đồng trong thời điểm không sản xuất. Tuy nuôi vịt khá vất vả, phải thường xuyên có mặt ngoài đồng nhưng bù lại, các nhà nuôi có thêm nguồn thu nhập khá và có được việc làm lúc nông nhàn thay cho đi làm thuê như trước đây.

Nếu ở những vùng có đồng thấp trũng người dân tập trung nuôi vịt và ngan thì ở các huyện có đồi núi người dân lại lựa chọn nuôi gà. Ông Nguyễn Văn Hoàng ở thôn Khe Năm, xã Sơn Kim 1 (Hương Sơn) chia sẻ: “Để tăng thu nhập, gia đình tôi thường nuôi ở quy mô 500 con gà thịt, 150-300 con gà đẻ trứng mỗi năm cung cấp cho thị trường hàng ngàn con gà, hàng chục ngàn quả trứng chất lượng cao. Nhờ chăm sóc đúng quy trình, ít dịch bệnh, thả ăn trên vùng đồi tự nhiên, chất lượng tốt nên thường được các trường học, đám cưới các gia đình có điều kiện tìm đến mua. Với mức lãi 2.000 đồng/quả trứng và 10 - 15 ngàn đồng/kg gà thịt thì lợi nhuận từ gà không chỉ đủ chi tiêu cho cuộc sống thường ngày mà còn giúp chúng tôi tái đầu tư vào các loại cây, con dài ngày khác...”
Còn bà Mai Thị Huế (65 tuổi) ở thôn Trại Tuần, xã Hương Vĩnh, huyện Hương Khê chia sẻ: "Nhà có vườn đồi nên tôi mua 150 con gà giống, chia làm 3 lứa theo các giai đoạn khác nhau về nuôi. Do gà là vật nuôi gần gũi, giống dễ mua, nguồn thức ăn có thể tận dụng được, dịch bệnh dễ kiểm soát và dễ bán nên tôi chẳng phải lo lắng tìm đầu ra".
Qua khảo sát cho thấy, nếu những loài vật nuôi khác phải đối mặt với nhiều phen lao đao thì những năm gần đây, chăn nuôi gia cầm ở tỉnh ta cơ bản ổn định hoặc tăng trưởng nhẹ. Theo ước tính, tổng đàn gà, vịt trên địa bàn tỉnh hiện đạt khoảng 8,6 triệu con, sản lượng trứng ước đạt trên 270 triệu quả.
Ngoài phát triển về số lượng thì chất lượng đàn gia cầm cũng ngày càng được cải thiện, hình thức nuôi cũng thay đổi theo hướng hàng hóa, tập trung. Tuy không lãi nhiều nhưng chăn nuôi gia cầm đã và đang mang đến nguồn thu nhập ổn định và giúp giải quyết việc làm cho nhiều người dân nông thôn.
Đọc thêm
Trang trại có quy mô 50 heo nái, 1000 heo thịt/năm, chăn nuôi theo hướng VietGAHP, ứng dụng công nghệ cao, xây dựng luôn cửa hàng bán thịt heo an toàn sinh học từ trang trại đến người tiêu dùng. Do vậy mặc dù 2 năm qua (2016, 2017) giá heo tụt dốc, nhiều trang trại, hộ nuôi heo phải bỏ nghề song trang trại của anh vẫn ổn định, giữ vững và phát triển.
Với giá heo hơi hiện nay (50.000 đồng/kg) anh vừa nuôi heo vừa bán thịt, sau khi trừ hết chi phí có lãi trung bình 2.700.000 đồng/con (heo thịt 100kg/con). Đó là nông dân Phùng Văn Bảo, ngụ ở ấp Sở Nhì, phường Hưng Chiến, thị xã Bình Long, tỉnh Bình Phước.
Những trăn trở thấu đáo từ sâu thẳm trong lòng
Anh Bảo bắt đầu với nghề nuôi heo từ 20 năm trước rồi sau đó kiêm luôn cả nghề lái heo. Gần 20 năm nuôi heo nhỏ lẻ, kỹ thuật chăn nuôi hạn chế, dịch bệnh xảy ra thường xuyên, giá cả bấp bênh, việc đầu tư thấp nên nuôi heo thường không có lãi. Mặt khác nghề lái heo có nhiều góc khuất đôi khi bất chấp tất cả sức khoẻ của người tiêu dùng, vệ sinh an toàn thực phẩm.v.v. Anh hầu như đã trải qua tất cả các giai đoạn thăng trầm và những khó khăn, vất vả trong nghề, lương tâm và đạo đức trong nghề lái heo không cho phép. Do vậy để nghề nuôi heo của gia đình được ổn định, giữ vững và phát triển anh đã “thay máu” cả về suy nghĩ lẫn cách làm và bỏ luôn nghề lái heo. Anh Bảo bộc bạch thật lòng


Đến thay đổi toàn bộ về cách làm
Năm 2014 anh tiến hành đầu tư, một mặt củng cố xây dựng lại hệ thống chuồng trại đảm bảo cho quy mô 50 heo nái và 1000 heo thịt/năm; xây dựng hệ thống bioga xử lý chất thải 100m3; mặt khác chọn lọc, nâng cấp đàn heo nái đảm bảo tiêu chuẩn chất lượng, dùng phương pháp thụ tinh nhân tạo bằng con giống của Công ty Cổ phần chăn nuôi CP. Đồng thời tham gia vào tổ hợp tác chăn nuôi heo của phường. Tại đây anh học hỏi thêm được nhiều kỹ thuật, kinh nghiệm trong chăn nuôi heo từ các thành viên trong tổ, các cán bộ hướng dẫn… Không dừng lại ở đó anh còn đầu tư thêm máy móc để thực hiện các công đoạn sản xuất, chế biến thức ăn tự trộn từ các nguyên liệu có sẵn, giá rẻ theo công thức tư vấn của các chuyên gia nhằm hạ giá thành (cám tự trộn chỉ dùng trong giai đoạn heo từ 20kg đến xuất chuồng). Năm 2015, 2016 chất cấm, chất tạo nạc và an toàn vệ sinh thực phẩm trong chăn nuôi là vấn đề nóng được cả xã hội quan tâm, vì vậy anh tạo bước đột phá về ứng dụng công nghệ cao đó là dùng men sinh học Probiotic và các sản phẩm thảo dược để bổ sung cho heo trong suốt thời kỳ sinh trưởng và phát triển, nhằm tăng hệ vi sinh vật có lợi trong đường ruột. Từ đó, heo con không bị tiêu chảy, hấp thu thức ăn tốt, giảm mùi hôi chuồng nuôi, tăng chất lượng thịt.
Đầu năm 2016 heo thịt bắt đầu rớt giá và kéo dài, nhiều người bỏ nghề thì tháng 8 năm 2016 anh vay mượn vốn và hợp tác cùng anh em họ hàng mở cửa hàng “Cung ứng thịt heo an toàn sinh học từ trang trại đến người tiêu dùng” với mục đích giữ nghề nuôi heo, xây dựng uy tín, thương hiệu về chất lượng thịt heo của gia đình, đồng thời cũng giúp người tiêu dùng được hưởng thịt heo đảm bảo chất lượng, có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng, giá cả phù hợp (do không qua thương lái trung gian). Ban đầu cũng chật vật, vất vả và định buông xuôi, bỏ nghề. Song sau nhiều đêm nghĩ lại thì anh thấy rằng để gây dựng đàn heo nái chất lượng và hệ thống chuồng trại đạt chuẩn, máy móc, dụng cụ không hề đơn giản. Anh đã căng óc suy nghĩ, tính toán tìm tất cả các biện pháp để hạ giá thành, cố gắng hòa vốn hoặc cầm cự lỗ trong khoảng chịu đựng được. Do gia đình tự mở cửa hàng bán thịt nên có lãi 500.000 đồng/con, số lãi này bù vào số lỗ trong quá trình chăn nuôi ở thời điểm giá heo thấp nhất. Chính vì vậy mà nghề nuôi heo được tồn tại, giữ vững qua giai đoạn khó khăn nhất. Tháng 7 năm 2017 anh tiếp tục tham gia vào Hợp tác xã chăn nuôi heo An Phát của thị xã Bình Long, cho đến nay thì nghề nuôi heo, cũng như cửa hàng cung ứng thịt heo an toàn sinh học của anh đã rất thuận lợi
Sau cơn mưa trời lại nắng
Suốt hai năm vất vả, cầm cự, tháng 4/2018 giá heo đã hồi phục và tăng trở lại. Chăn nuôi đúng quy trình kỹ thuật, dịch bệnh được kiểm soát chặt chẽ, do vậy năng suất, chất lượng heo thịt ngày càng ổn định và giữ vững (thời gian này, nhiều hộ muốn tái đàn song không có giống và giá giống cũng ở mức rất cao). Cùng lúc này lượng khách hàng tiêu dùng thịt heo của anh đã ổn định và không ngừng tăng lên. Hiện nay số heo thịt của gia đình anh không đủ cung cấp hàng ngày cho người tiêu dùng. Vì vậy anh đang cùng Hợp tác xã An phát tiến hành làm các thủ tục để được chứng nhận VietGAHP trong chăn nuôi, mở rộng quy mô, thị trường tiêu thụ, xây dựng thương hiệu, quảng bá sản phẩm, thực hiện chuỗi liên kết gia tăng giá trị… để góp phần giúp nghề chăn nuôi heo ổn định, phát triển bền vững, phù hợp kinh tế thời kỳ hội nhập và tiến tới xuất khẩu.

DKT Biotech-VET- Mô hình nuôi heo theo chuỗi liên kết, ứng dụng công nghệ cao tại Bình Phước

Trang trại có quy mô 50 heo nái, 1000 heo thịt/năm, chăn nuôi theo hướng VietGAHP, ứng dụng công nghệ cao, xây dựng luôn cửa hàng bán thịt heo an toàn sinh học từ trang trại đến người tiêu dùng. Do vậy mặc dù 2 năm qua (2016, 2017) giá heo tụt dốc, nhiều trang trại, hộ nuôi heo phải bỏ nghề song trang trại của anh vẫn ổn định, giữ vững và phát triển.
Với giá heo hơi hiện nay (50.000 đồng/kg) anh vừa nuôi heo vừa bán thịt, sau khi trừ hết chi phí có lãi trung bình 2.700.000 đồng/con (heo thịt 100kg/con). Đó là nông dân Phùng Văn Bảo, ngụ ở ấp Sở Nhì, phường Hưng Chiến, thị xã Bình Long, tỉnh Bình Phước.
Những trăn trở thấu đáo từ sâu thẳm trong lòng
Anh Bảo bắt đầu với nghề nuôi heo từ 20 năm trước rồi sau đó kiêm luôn cả nghề lái heo. Gần 20 năm nuôi heo nhỏ lẻ, kỹ thuật chăn nuôi hạn chế, dịch bệnh xảy ra thường xuyên, giá cả bấp bênh, việc đầu tư thấp nên nuôi heo thường không có lãi. Mặt khác nghề lái heo có nhiều góc khuất đôi khi bất chấp tất cả sức khoẻ của người tiêu dùng, vệ sinh an toàn thực phẩm.v.v. Anh hầu như đã trải qua tất cả các giai đoạn thăng trầm và những khó khăn, vất vả trong nghề, lương tâm và đạo đức trong nghề lái heo không cho phép. Do vậy để nghề nuôi heo của gia đình được ổn định, giữ vững và phát triển anh đã “thay máu” cả về suy nghĩ lẫn cách làm và bỏ luôn nghề lái heo. Anh Bảo bộc bạch thật lòng


Đến thay đổi toàn bộ về cách làm
Năm 2014 anh tiến hành đầu tư, một mặt củng cố xây dựng lại hệ thống chuồng trại đảm bảo cho quy mô 50 heo nái và 1000 heo thịt/năm; xây dựng hệ thống bioga xử lý chất thải 100m3; mặt khác chọn lọc, nâng cấp đàn heo nái đảm bảo tiêu chuẩn chất lượng, dùng phương pháp thụ tinh nhân tạo bằng con giống của Công ty Cổ phần chăn nuôi CP. Đồng thời tham gia vào tổ hợp tác chăn nuôi heo của phường. Tại đây anh học hỏi thêm được nhiều kỹ thuật, kinh nghiệm trong chăn nuôi heo từ các thành viên trong tổ, các cán bộ hướng dẫn… Không dừng lại ở đó anh còn đầu tư thêm máy móc để thực hiện các công đoạn sản xuất, chế biến thức ăn tự trộn từ các nguyên liệu có sẵn, giá rẻ theo công thức tư vấn của các chuyên gia nhằm hạ giá thành (cám tự trộn chỉ dùng trong giai đoạn heo từ 20kg đến xuất chuồng). Năm 2015, 2016 chất cấm, chất tạo nạc và an toàn vệ sinh thực phẩm trong chăn nuôi là vấn đề nóng được cả xã hội quan tâm, vì vậy anh tạo bước đột phá về ứng dụng công nghệ cao đó là dùng men sinh học Probiotic và các sản phẩm thảo dược để bổ sung cho heo trong suốt thời kỳ sinh trưởng và phát triển, nhằm tăng hệ vi sinh vật có lợi trong đường ruột. Từ đó, heo con không bị tiêu chảy, hấp thu thức ăn tốt, giảm mùi hôi chuồng nuôi, tăng chất lượng thịt.
Đầu năm 2016 heo thịt bắt đầu rớt giá và kéo dài, nhiều người bỏ nghề thì tháng 8 năm 2016 anh vay mượn vốn và hợp tác cùng anh em họ hàng mở cửa hàng “Cung ứng thịt heo an toàn sinh học từ trang trại đến người tiêu dùng” với mục đích giữ nghề nuôi heo, xây dựng uy tín, thương hiệu về chất lượng thịt heo của gia đình, đồng thời cũng giúp người tiêu dùng được hưởng thịt heo đảm bảo chất lượng, có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng, giá cả phù hợp (do không qua thương lái trung gian). Ban đầu cũng chật vật, vất vả và định buông xuôi, bỏ nghề. Song sau nhiều đêm nghĩ lại thì anh thấy rằng để gây dựng đàn heo nái chất lượng và hệ thống chuồng trại đạt chuẩn, máy móc, dụng cụ không hề đơn giản. Anh đã căng óc suy nghĩ, tính toán tìm tất cả các biện pháp để hạ giá thành, cố gắng hòa vốn hoặc cầm cự lỗ trong khoảng chịu đựng được. Do gia đình tự mở cửa hàng bán thịt nên có lãi 500.000 đồng/con, số lãi này bù vào số lỗ trong quá trình chăn nuôi ở thời điểm giá heo thấp nhất. Chính vì vậy mà nghề nuôi heo được tồn tại, giữ vững qua giai đoạn khó khăn nhất. Tháng 7 năm 2017 anh tiếp tục tham gia vào Hợp tác xã chăn nuôi heo An Phát của thị xã Bình Long, cho đến nay thì nghề nuôi heo, cũng như cửa hàng cung ứng thịt heo an toàn sinh học của anh đã rất thuận lợi
Sau cơn mưa trời lại nắng
Suốt hai năm vất vả, cầm cự, tháng 4/2018 giá heo đã hồi phục và tăng trở lại. Chăn nuôi đúng quy trình kỹ thuật, dịch bệnh được kiểm soát chặt chẽ, do vậy năng suất, chất lượng heo thịt ngày càng ổn định và giữ vững (thời gian này, nhiều hộ muốn tái đàn song không có giống và giá giống cũng ở mức rất cao). Cùng lúc này lượng khách hàng tiêu dùng thịt heo của anh đã ổn định và không ngừng tăng lên. Hiện nay số heo thịt của gia đình anh không đủ cung cấp hàng ngày cho người tiêu dùng. Vì vậy anh đang cùng Hợp tác xã An phát tiến hành làm các thủ tục để được chứng nhận VietGAHP trong chăn nuôi, mở rộng quy mô, thị trường tiêu thụ, xây dựng thương hiệu, quảng bá sản phẩm, thực hiện chuỗi liên kết gia tăng giá trị… để góp phần giúp nghề chăn nuôi heo ổn định, phát triển bền vững, phù hợp kinh tế thời kỳ hội nhập và tiến tới xuất khẩu.
Đọc thêm