Đối với gia cầm chăn thả ngoài đồng trong thời tiết nắng nóng dễ bị cảm nắng, cảm nóng có thể gây chết cầm nếu không có biện pháp phòng trị tích cực.
Để phòng chống bệnh cho vật nuôi trong mùa hè nắng nóng, người chăn nuôi nên thực hiện tốt các biện pháp sau:
1.Chuồng trại và mật độ chăn nuôi:
- Xây dựng chuồng trại đảm bảo thoáng mát, xa khu dân cư, các nhà máy xí nghiệp, lò gạch..v..v.
- Hướng chuồng theo hướng Đông - Nam là tốt nhất. Nền chuồng cao ráo, đảm bảo thoát nước tốt. Mái hiên cách mặt đất tối thiểu 2 m.
- Trồng cây xanh xung quanh khu vực chuồng nuôi tạo bóng mát. Giảm mật độ nuôi nhốt vật nuôi trong mùa hè,nắng nóng.
- Lắp đặt và vận hành hệ thống làm mát trong chuồng trại như quạt gió, giàn phun mưa trên mái hoặc trồng một số loại dây leo phủ mái như dây bìm bìm, hoa giấy, mướp… làm giảm nhiệt độ chuồng nuôi.


2.Công tác vệ sinh thú y:
- Tăng cường vệ sinh tẩy uế chuồng trại và các dụng cụ chăn nuôi. Đảm bảo nền chuồng sạch, khô ráo, cống rãnh không đọng phân, nước thải nhằm hạn chế phát sinh ruồi, muỗi, và các sinh vật gây bệnh khác.
- Thường xuyên phát hiện sớm các gia súc ốm, bị bệnh để cách ly, báo thú y đến điều trị, xử lý kịp thời tránh để bệnh lây lan. 
- Định kỳ phun thuốc sát trùng để diệt ve, mòng, ruồi, muỗi, bọ mạt... là những tác nhân truyền và gây bệnh trong mùa hè (dùng các loại thuốc sát trùng thông dụng như Virkon, Hanamid, HanIod,Hantox, formalin...). Tiêm phòng định kỳ các loại vác xin cho vật nuôi theo hướng dẫn của cơ quan thú y.
3.Chăm sóc kỹ lưỡng, quản lý khai thác vật nuôi:
- Tăng số lượng máng uống, cung cấp đủ nước mát và sạch cho gà uống giúp giảm được nhiệt độ cơ thể.
- Cho gà ăn thức ăn chất lượng tốt, đảm bảo không thiu mốc, không chứa độc tố.
- Đối với gà đẻ trứng nên cho ăn bổ sung thêm canxi, giúp tăng lượng canxi tiêu thụ, cải thiện đáng kể sản lượng trứng và chất lượng vỏ trứng. 
- Bố trí khẩu phần ăn giàu năng lượng bằng những thực phẩm giàu chất béo thay cho tinh bột là một cách để hạn chế sản sinh nhiệt vì sự giải phóng nhiệt từ tiêu hóa và trao đổi chất của tinh bột cao hơn xấp xỉ 30% so với chất béo. 
- Nên chuyển thời gian ăn cho gà vào lúc trời mát hoặc ban đêm để tăng khả năng ăn cho gà.
- Nên cho gà uống các loại vitamin và các chất điện giải như Bcomplex, vitamin C bằng cách pha vào nước uống nhằm tăng cường sức đề kháng.
- Hạn chế vận chuyển gia cầm khi trời nắng nóng, nếu phải vận chuyển đi xa thì cần có dụng cụ chuyên dụng và mật độ hợp lý, đồng thời thường xuyên dừng nghỉ cho gà ăn và uống nước.

DKT Biotech-Vet- Giải pháp phòng chống nóng cho đàn gà

Đối với gia cầm chăn thả ngoài đồng trong thời tiết nắng nóng dễ bị cảm nắng, cảm nóng có thể gây chết cầm nếu không có biện pháp phòng trị tích cực.
Để phòng chống bệnh cho vật nuôi trong mùa hè nắng nóng, người chăn nuôi nên thực hiện tốt các biện pháp sau:
1.Chuồng trại và mật độ chăn nuôi:
- Xây dựng chuồng trại đảm bảo thoáng mát, xa khu dân cư, các nhà máy xí nghiệp, lò gạch..v..v.
- Hướng chuồng theo hướng Đông - Nam là tốt nhất. Nền chuồng cao ráo, đảm bảo thoát nước tốt. Mái hiên cách mặt đất tối thiểu 2 m.
- Trồng cây xanh xung quanh khu vực chuồng nuôi tạo bóng mát. Giảm mật độ nuôi nhốt vật nuôi trong mùa hè,nắng nóng.
- Lắp đặt và vận hành hệ thống làm mát trong chuồng trại như quạt gió, giàn phun mưa trên mái hoặc trồng một số loại dây leo phủ mái như dây bìm bìm, hoa giấy, mướp… làm giảm nhiệt độ chuồng nuôi.


2.Công tác vệ sinh thú y:
- Tăng cường vệ sinh tẩy uế chuồng trại và các dụng cụ chăn nuôi. Đảm bảo nền chuồng sạch, khô ráo, cống rãnh không đọng phân, nước thải nhằm hạn chế phát sinh ruồi, muỗi, và các sinh vật gây bệnh khác.
- Thường xuyên phát hiện sớm các gia súc ốm, bị bệnh để cách ly, báo thú y đến điều trị, xử lý kịp thời tránh để bệnh lây lan. 
- Định kỳ phun thuốc sát trùng để diệt ve, mòng, ruồi, muỗi, bọ mạt... là những tác nhân truyền và gây bệnh trong mùa hè (dùng các loại thuốc sát trùng thông dụng như Virkon, Hanamid, HanIod,Hantox, formalin...). Tiêm phòng định kỳ các loại vác xin cho vật nuôi theo hướng dẫn của cơ quan thú y.
3.Chăm sóc kỹ lưỡng, quản lý khai thác vật nuôi:
- Tăng số lượng máng uống, cung cấp đủ nước mát và sạch cho gà uống giúp giảm được nhiệt độ cơ thể.
- Cho gà ăn thức ăn chất lượng tốt, đảm bảo không thiu mốc, không chứa độc tố.
- Đối với gà đẻ trứng nên cho ăn bổ sung thêm canxi, giúp tăng lượng canxi tiêu thụ, cải thiện đáng kể sản lượng trứng và chất lượng vỏ trứng. 
- Bố trí khẩu phần ăn giàu năng lượng bằng những thực phẩm giàu chất béo thay cho tinh bột là một cách để hạn chế sản sinh nhiệt vì sự giải phóng nhiệt từ tiêu hóa và trao đổi chất của tinh bột cao hơn xấp xỉ 30% so với chất béo. 
- Nên chuyển thời gian ăn cho gà vào lúc trời mát hoặc ban đêm để tăng khả năng ăn cho gà.
- Nên cho gà uống các loại vitamin và các chất điện giải như Bcomplex, vitamin C bằng cách pha vào nước uống nhằm tăng cường sức đề kháng.
- Hạn chế vận chuyển gia cầm khi trời nắng nóng, nếu phải vận chuyển đi xa thì cần có dụng cụ chuyên dụng và mật độ hợp lý, đồng thời thường xuyên dừng nghỉ cho gà ăn và uống nước.
Đọc thêm
Bà con cần tìm hiểu về cách phòng trị một số bệnh thường gặp ở heo rừng.

Bệnh tiêu hoá: 
Khi heo rừng lai mắc một số bệnh về đường tiêu hoá (sình bụng, đầy hơi, đầy bụng, tiêu chảy, ngộ độc thức ăn…), có thể dùng các loại thuốc trị bệnh đau bụng, đầy hơi, khó tiêu, tiêu chảy của heo cho uống hoặc chích ngừa. Dùng 5- 10kg rau dừa dại cho heo ăn hoặc có thể bổ sung thức ăn, nước uống đắng chát như lá, quả ổi xanh, càrốt, rễ cau, rễ dừa… cũng khỏi.
Để phòng bệnh về đường tiêu hoá, cần cho heo ăn thức ăn đảm bảo vệ sinh, không bị ẩm mốc, hôi thối, không có dư lượng thuốc trừ sâu, khẩu phần ăn phải đa dạng, phong phú, đầy đủ dinh dưỡng…
Chấn thương cơ học
Do heo rừng có khả năng tái sinh nhanh nên chóng lành. Nếu bị chấn thương nhỏ thì rửa sạch và bôi thuốc sát trùng, chấn thương lớn thì rửa sạch, sát trùng trước và sau khi khâu, chích kháng sinh tổng hợp như Ampicylline, Tetracylline, hay Penicilline và Streptomycine…



Ký sinh trùng ngoài da 
Các loại ve, mò, ghẻ, ruồi, muỗi… ít khi bám trên da hút máu và truyền bệnh ở heo rừng. Và với đặc tính hoang dã nên heo rừng lai không sợ muỗi, côn trùng tấn công. Trường hợp heo bị ký sinh trùng ngoài da, có thể dùng thuốc sát trùng bôi, xịt. Để phòng bệnh ký sinh trùng ngoài da cho heo rừng, nên định kỳ vệ sinh, sát trùng chuồng trại và môi trường xung quanh.
Sưng phổi
Heo rừng bị sưng phổi thường sốt cao, biếng ăn, bỏ ăn. Điều trị bằng kháng sinh tổng hợp. 
Táo bón
Heo bị táo bón có thể cho uống thuốc nhuận tràng hoặc cho ăn thức ăn nhuận tràng… 
Ký sinh trùng đường ruột 
Heo bị nhiễm ký sinh trùng đường ruột thường còi cọc, chậm lớn, trong phân có ấu trùng giun, sán. Cần thiết phải xổ sán, giun cho heo.

Biện pháp phòng bệnh tốt nhất: Chăm sóc nuôi dưỡng tốt, ăn uống sạch sẽ, thức ăn đảm bảo vệ sinh và giá trị dinh dưỡng, chuồng trại luôn sạch sẽ… Cần áp dụng tốt các biện pháp an toàn sinh học như: vệ sinh, sát trùng chuồng trại, cách ly khu vực chăn nuôi với các khu vực xung quanh… định kỳ tiêm phòng các bệnh truyền nhiễm: bệnh phó thương hàn, dịch tả, lở mồm long móng, E. coli, dại… theo đặc điểm dịch tễ học của vùng và quy định của cơ quan thú y.
Phòng và xử lý tốt các bệnh thường gặp ở heo. Hạn chế sử dụng những loại thuốc thú y có tính tồn lưu cao và chỉ sử dụng thuốc trong những trường hợp thật cần thiết.
Khi thời tiết thay đổi hoặc trạng thái sức khoẻ của đàn heo có biểu hiện bệnh, cần thiết phải bổ sung kháng sinh vào thức ăn hoặc nước uống cho heo theo quy trình “dùng thuốc 3 ngày, nghỉ 7 hoặc 10 ngày, rồi dùng tiếp 3 ngày”, cho đến khi đàn heo trở lại bình thường, với liều phòng chỉ bằng 1/2- 1/3 liều điều trị…

DKT Biotech-Vet- Phòng trị một số bệnh thường gặp ở heo rừng

Bà con cần tìm hiểu về cách phòng trị một số bệnh thường gặp ở heo rừng.

Bệnh tiêu hoá: 
Khi heo rừng lai mắc một số bệnh về đường tiêu hoá (sình bụng, đầy hơi, đầy bụng, tiêu chảy, ngộ độc thức ăn…), có thể dùng các loại thuốc trị bệnh đau bụng, đầy hơi, khó tiêu, tiêu chảy của heo cho uống hoặc chích ngừa. Dùng 5- 10kg rau dừa dại cho heo ăn hoặc có thể bổ sung thức ăn, nước uống đắng chát như lá, quả ổi xanh, càrốt, rễ cau, rễ dừa… cũng khỏi.
Để phòng bệnh về đường tiêu hoá, cần cho heo ăn thức ăn đảm bảo vệ sinh, không bị ẩm mốc, hôi thối, không có dư lượng thuốc trừ sâu, khẩu phần ăn phải đa dạng, phong phú, đầy đủ dinh dưỡng…
Chấn thương cơ học
Do heo rừng có khả năng tái sinh nhanh nên chóng lành. Nếu bị chấn thương nhỏ thì rửa sạch và bôi thuốc sát trùng, chấn thương lớn thì rửa sạch, sát trùng trước và sau khi khâu, chích kháng sinh tổng hợp như Ampicylline, Tetracylline, hay Penicilline và Streptomycine…



Ký sinh trùng ngoài da 
Các loại ve, mò, ghẻ, ruồi, muỗi… ít khi bám trên da hút máu và truyền bệnh ở heo rừng. Và với đặc tính hoang dã nên heo rừng lai không sợ muỗi, côn trùng tấn công. Trường hợp heo bị ký sinh trùng ngoài da, có thể dùng thuốc sát trùng bôi, xịt. Để phòng bệnh ký sinh trùng ngoài da cho heo rừng, nên định kỳ vệ sinh, sát trùng chuồng trại và môi trường xung quanh.
Sưng phổi
Heo rừng bị sưng phổi thường sốt cao, biếng ăn, bỏ ăn. Điều trị bằng kháng sinh tổng hợp. 
Táo bón
Heo bị táo bón có thể cho uống thuốc nhuận tràng hoặc cho ăn thức ăn nhuận tràng… 
Ký sinh trùng đường ruột 
Heo bị nhiễm ký sinh trùng đường ruột thường còi cọc, chậm lớn, trong phân có ấu trùng giun, sán. Cần thiết phải xổ sán, giun cho heo.

Biện pháp phòng bệnh tốt nhất: Chăm sóc nuôi dưỡng tốt, ăn uống sạch sẽ, thức ăn đảm bảo vệ sinh và giá trị dinh dưỡng, chuồng trại luôn sạch sẽ… Cần áp dụng tốt các biện pháp an toàn sinh học như: vệ sinh, sát trùng chuồng trại, cách ly khu vực chăn nuôi với các khu vực xung quanh… định kỳ tiêm phòng các bệnh truyền nhiễm: bệnh phó thương hàn, dịch tả, lở mồm long móng, E. coli, dại… theo đặc điểm dịch tễ học của vùng và quy định của cơ quan thú y.
Phòng và xử lý tốt các bệnh thường gặp ở heo. Hạn chế sử dụng những loại thuốc thú y có tính tồn lưu cao và chỉ sử dụng thuốc trong những trường hợp thật cần thiết.
Khi thời tiết thay đổi hoặc trạng thái sức khoẻ của đàn heo có biểu hiện bệnh, cần thiết phải bổ sung kháng sinh vào thức ăn hoặc nước uống cho heo theo quy trình “dùng thuốc 3 ngày, nghỉ 7 hoặc 10 ngày, rồi dùng tiếp 3 ngày”, cho đến khi đàn heo trở lại bình thường, với liều phòng chỉ bằng 1/2- 1/3 liều điều trị…
Đọc thêm
Chi cục Thú y Hà Nội những năm qua được ghi nhận việc tổ chức tiêm phòng đại trà có nhiều chuyển biến tích cực, tỷ lệ tiêm phòng luôn đạt trên 90% so với kế hoạch, đặc biệt tiêm phòng bệnh dại cho đàn chó mèo, tiêm phòng vắc xin cúm gia cầm với tỷ lệ cao, từ đó ngăn chặn dịch bệnh cho người và gia súc gia cầm (GSGC).

Tổ chức tiêm phòng đại trà để đảm bảo tính đồng bộ, đồng loạt tạo miễn dịch tốt hơn, đồng thời rút ngắn thời gian, giảm chi phí cho người chăn nuôi. Một số huyện tổ chức tiêm phòng các đợt đại trà rất tốt như Đông Anh, Sóc Sơn, Chương Mỹ, Hoài Đức, Đan Phượng, Phúc Thọ...

Kinh nghiệm thực tế từ các huyện cho thấy để đợt tiêm phòng đạt hiệu quả cao cần có những bài học cụ thể đó là:

Thứ nhất: Rà soát, thống kê đàn GSGC hiện có. Số lượng đàn gia súc gia cầm thường có biến động hàng ngày, hàng tháng vì vậy mạng lưới thú y cơ sở phải nắm bắt kịp thời để có kế hoạch tiêm phòng sát thực tế. Hơn nữa khi nắm chắc số lượng đầu GSGC sẽ chủ động được về số lượng vắc xin, thời gian tiêm phòng. Riêng đàn chó nuôi cần phải thực hiện tốt việc thống kế, nhất là ở các quận nội thành để thực hiện việc quản lý chó nuôi nhằm đảm bảo việc tiêm phòng triệt để.



Thứ hai: Sự vào cuộc của cấp chính quyền từ huyện đến các xã, thị trấn. Ngành Thú y làm tốt công tác tham mưu để UBND huyện có sự chỉ đạo đồng bộ đến các xã thị trấn, các ngành liên quan của huyện cùng vào cuộc...
Thứ hai: Bố trí thời gian tiêm phòng hợp lý. Tập trung chỉ đạo tiêm phòng cho từng loại gia súc trong thời gian ngắn, không nên kéo dài vì thực tế nếu khâu tổ chức tốt thì mỗi loại gia súc cũng chỉ tiêm trong 1 - 3 ngày là xong. Trên thực tế mạng lưới thú y tại các huyện đã có đến thôn bản, vì vậy khi đồng loạt phát động cả hệ thống cùng vào cuộc sẽ tạo sự đồng bộ để mọi nhà, mọi người cũng thực hiện việc tiêm phòng.
Các huyện thường tổ chức tiêm phòng đàn chó, mèo trong khoảng 2 - 3 ngày (2 ngày đầu tiêm tập trung, ngày thứ 3 tiêm số còn lại), đàn trâu bò tiêm trong 2 - 3 ngày. Yếu tố này nhằm giúp các cơ sở có sự tập trung chỉ đạo, nhất là Ban Chăn nuôi - thú y các xã, thị trấn. Trường hợp một số xã có số lượng trâu bò lớn địa bàn rộng phải có báo cáo rõ ràng để bố trí lực lượng, tổ chức tiêm trước hoặc tiêm xen kẽ giữa tiêm chó mèo, tiêm lợn và tiêm trâu bò sao cho phù hợp.

Thứ ba: Tổ chức tốt việc tuyên truyền trong thời gian tiêm phòng. Kinh nghiệm cho thấy nơi nào làm tốt khâu này nơi đó có tỷ lệ tiêm phòng cao. Bằng nhiều hình thức tuyên truyền trên hệ thống truyền thanh huyện đến xã, truyền thanh, thông báo trực tiếp tại các đài thôn, bản.
Thứ tư: Tập huấn kỹ thuật đến cán bộ chuyên môn và người tham gia tiêm phòng. Trước khi và đợt tiêm phòng, trạm thú y huyện tổ chức tập huấn đến cán bộ thú y trong Ban Chăn nuôi - thú y các xã thị trấn, vừa giúp cán bộ thú y làm tốt chuyên môn, vừa động viên họ có trách nhiệm hơn trong công việc phấn đấu cùng hoàn thành nhiệm vụ.
Thứ thứ5 : Tăng cường công tác kiểm tra các cơ sở. Khi đã có kế hoạch, ban chỉ đạo huyện, xã phân công gắn trách nhiệm đến từng thành viên. Trong những ngày tiêm phòng các huyện thành lập đoàn kiểm tra liên ngành đi kiểm tra các xã thị trấn trong đợt tiêm phòng. Việc làm này rất có ý nghĩa trong chỉ đạo các cơ sở giúp cho chuyên môn tổ chức thực hiện tốt.
Thực tế qua 1 - 2 ngày, cơ sở nào yếu kém, đoàn kiểm tra sẽ đến đó, trực tiếp làm việc với UBND xã, thị xã để có sự chỉ đạo từ cơ sở. Trạm Thú y huyện thì tiến hành kiểm tra việc tham mưu của Trưởng ban Chăn nuôi - thú y, nếu cán bộ Trưởng ban làm chưa tốt việc tham mưu cho chính quyền địa phương thì Trạm Thú y sẽ có biện pháp làm rõ trách nhiệm của Trưởng ban để rút kinh nghiệm làm tốt hơn. Với việc tăng cường kiểm tra sẽ giúp cho các cơ sở tập trung chỉ đạo, từ đó nâng cao tỷ lệ tiêm phòng.
BiotechViet tổng hợp theo báo NNVN

DKT Biotech-Vet- Rút kinh nghiệm tiêm phòng cho đàn vật nuôi

Chi cục Thú y Hà Nội những năm qua được ghi nhận việc tổ chức tiêm phòng đại trà có nhiều chuyển biến tích cực, tỷ lệ tiêm phòng luôn đạt trên 90% so với kế hoạch, đặc biệt tiêm phòng bệnh dại cho đàn chó mèo, tiêm phòng vắc xin cúm gia cầm với tỷ lệ cao, từ đó ngăn chặn dịch bệnh cho người và gia súc gia cầm (GSGC).

Tổ chức tiêm phòng đại trà để đảm bảo tính đồng bộ, đồng loạt tạo miễn dịch tốt hơn, đồng thời rút ngắn thời gian, giảm chi phí cho người chăn nuôi. Một số huyện tổ chức tiêm phòng các đợt đại trà rất tốt như Đông Anh, Sóc Sơn, Chương Mỹ, Hoài Đức, Đan Phượng, Phúc Thọ...

Kinh nghiệm thực tế từ các huyện cho thấy để đợt tiêm phòng đạt hiệu quả cao cần có những bài học cụ thể đó là:

Thứ nhất: Rà soát, thống kê đàn GSGC hiện có. Số lượng đàn gia súc gia cầm thường có biến động hàng ngày, hàng tháng vì vậy mạng lưới thú y cơ sở phải nắm bắt kịp thời để có kế hoạch tiêm phòng sát thực tế. Hơn nữa khi nắm chắc số lượng đầu GSGC sẽ chủ động được về số lượng vắc xin, thời gian tiêm phòng. Riêng đàn chó nuôi cần phải thực hiện tốt việc thống kế, nhất là ở các quận nội thành để thực hiện việc quản lý chó nuôi nhằm đảm bảo việc tiêm phòng triệt để.



Thứ hai: Sự vào cuộc của cấp chính quyền từ huyện đến các xã, thị trấn. Ngành Thú y làm tốt công tác tham mưu để UBND huyện có sự chỉ đạo đồng bộ đến các xã thị trấn, các ngành liên quan của huyện cùng vào cuộc...
Thứ hai: Bố trí thời gian tiêm phòng hợp lý. Tập trung chỉ đạo tiêm phòng cho từng loại gia súc trong thời gian ngắn, không nên kéo dài vì thực tế nếu khâu tổ chức tốt thì mỗi loại gia súc cũng chỉ tiêm trong 1 - 3 ngày là xong. Trên thực tế mạng lưới thú y tại các huyện đã có đến thôn bản, vì vậy khi đồng loạt phát động cả hệ thống cùng vào cuộc sẽ tạo sự đồng bộ để mọi nhà, mọi người cũng thực hiện việc tiêm phòng.
Các huyện thường tổ chức tiêm phòng đàn chó, mèo trong khoảng 2 - 3 ngày (2 ngày đầu tiêm tập trung, ngày thứ 3 tiêm số còn lại), đàn trâu bò tiêm trong 2 - 3 ngày. Yếu tố này nhằm giúp các cơ sở có sự tập trung chỉ đạo, nhất là Ban Chăn nuôi - thú y các xã, thị trấn. Trường hợp một số xã có số lượng trâu bò lớn địa bàn rộng phải có báo cáo rõ ràng để bố trí lực lượng, tổ chức tiêm trước hoặc tiêm xen kẽ giữa tiêm chó mèo, tiêm lợn và tiêm trâu bò sao cho phù hợp.

Thứ ba: Tổ chức tốt việc tuyên truyền trong thời gian tiêm phòng. Kinh nghiệm cho thấy nơi nào làm tốt khâu này nơi đó có tỷ lệ tiêm phòng cao. Bằng nhiều hình thức tuyên truyền trên hệ thống truyền thanh huyện đến xã, truyền thanh, thông báo trực tiếp tại các đài thôn, bản.
Thứ tư: Tập huấn kỹ thuật đến cán bộ chuyên môn và người tham gia tiêm phòng. Trước khi và đợt tiêm phòng, trạm thú y huyện tổ chức tập huấn đến cán bộ thú y trong Ban Chăn nuôi - thú y các xã thị trấn, vừa giúp cán bộ thú y làm tốt chuyên môn, vừa động viên họ có trách nhiệm hơn trong công việc phấn đấu cùng hoàn thành nhiệm vụ.
Thứ thứ5 : Tăng cường công tác kiểm tra các cơ sở. Khi đã có kế hoạch, ban chỉ đạo huyện, xã phân công gắn trách nhiệm đến từng thành viên. Trong những ngày tiêm phòng các huyện thành lập đoàn kiểm tra liên ngành đi kiểm tra các xã thị trấn trong đợt tiêm phòng. Việc làm này rất có ý nghĩa trong chỉ đạo các cơ sở giúp cho chuyên môn tổ chức thực hiện tốt.
Thực tế qua 1 - 2 ngày, cơ sở nào yếu kém, đoàn kiểm tra sẽ đến đó, trực tiếp làm việc với UBND xã, thị xã để có sự chỉ đạo từ cơ sở. Trạm Thú y huyện thì tiến hành kiểm tra việc tham mưu của Trưởng ban Chăn nuôi - thú y, nếu cán bộ Trưởng ban làm chưa tốt việc tham mưu cho chính quyền địa phương thì Trạm Thú y sẽ có biện pháp làm rõ trách nhiệm của Trưởng ban để rút kinh nghiệm làm tốt hơn. Với việc tăng cường kiểm tra sẽ giúp cho các cơ sở tập trung chỉ đạo, từ đó nâng cao tỷ lệ tiêm phòng.
BiotechViet tổng hợp theo báo NNVN
Đọc thêm
Chất chống oxy hóa thường được thêm vào thịt và sản phẩm thịt tươi và chế biến để ngăn chặn quá trình oxy hóa lipid (phân hủy), ngăn không cho mùi vị bị biến chất, và cải thiện độ ổn định màu. 
Gần đây các nhà sản xuất thực phẩm đã chuyển sang hướng sử dụng chất chống oxy hóa tự nhiên như chiết xuất từ ​​thực vật, các loại thảo mộc, gia vị và các loại tinh dầu, thay vì chất chống oxy hóa tổng hợp để đáp ứng nhu cầu các sản phẩm tự nhiên hơn của người tiêu dùng.
Trong một nghiên cứu xem xét, các tác giả từ Đại học Nông nghiệp Punjab, Ấn Độ đã tìm hiểu rất nhiều nghiên cứu để xác định 27 thành phần tự nhiên có thể được sử dụng như chất chống oxy hóa trong thịt và sản phẩm thịt.
Sau đây là 10 trong số các thành phần tự nhiên và loại thịt mà chúng có thể bảo quản:
Thành phần tự nhiên;Thịt/sản phẩm thịt
Chiết xuất kimchi lá mù tạt;Thịt heo sống băm để lạnh
Tinh dầu lá kinh giớiThịt bò sống và nấu chín
Tinh dầu lá xô thơmThịt bò sống và nấu chín
Cà riThịt bò sống và nấu chín
Nước ép cà rốtXúc xích bò
Chiết xuất nước ép lựuGà lăn bột nấu chín
Chiết xuất kimchiThịt heo băm nấu chín
Chất xơ chống oxy hóa từ nhoBánh mì burger gà sống và nấu chín
Chiết xuất trà xanhXúc xích cay khô
Chiết xuất canh giớiBánh mì burger bò

DKT Biotech- Vet- Sử dụng chất chống oxy hóa tự nhiên bảo quản thịt tươi

Chất chống oxy hóa thường được thêm vào thịt và sản phẩm thịt tươi và chế biến để ngăn chặn quá trình oxy hóa lipid (phân hủy), ngăn không cho mùi vị bị biến chất, và cải thiện độ ổn định màu. 
Gần đây các nhà sản xuất thực phẩm đã chuyển sang hướng sử dụng chất chống oxy hóa tự nhiên như chiết xuất từ ​​thực vật, các loại thảo mộc, gia vị và các loại tinh dầu, thay vì chất chống oxy hóa tổng hợp để đáp ứng nhu cầu các sản phẩm tự nhiên hơn của người tiêu dùng.
Trong một nghiên cứu xem xét, các tác giả từ Đại học Nông nghiệp Punjab, Ấn Độ đã tìm hiểu rất nhiều nghiên cứu để xác định 27 thành phần tự nhiên có thể được sử dụng như chất chống oxy hóa trong thịt và sản phẩm thịt.
Sau đây là 10 trong số các thành phần tự nhiên và loại thịt mà chúng có thể bảo quản:
Thành phần tự nhiên;Thịt/sản phẩm thịt
Chiết xuất kimchi lá mù tạt;Thịt heo sống băm để lạnh
Tinh dầu lá kinh giớiThịt bò sống và nấu chín
Tinh dầu lá xô thơmThịt bò sống và nấu chín
Cà riThịt bò sống và nấu chín
Nước ép cà rốtXúc xích bò
Chiết xuất nước ép lựuGà lăn bột nấu chín
Chiết xuất kimchiThịt heo băm nấu chín
Chất xơ chống oxy hóa từ nhoBánh mì burger gà sống và nấu chín
Chiết xuất trà xanhXúc xích cay khô
Chiết xuất canh giớiBánh mì burger bò

Đọc thêm
Theo dự báo của Trung tâm dự báo khí tượng thủy văn Quốc gia, tình trạng thiếu nước, khô hạn có khả năng xảy ra trên diện rộng ở các tỉnh miền Trung và Tây Nguyên.
Để chủ động, kịp thời phòng chống thiếu nước, giảm thiểu thiệt hại cho vật nuôi, bà con cần thực hiện các biện pháp kỹ thuật sau đây:
1. Chuẩn bị thức ăn, nước uống
- Tận dụng mọi nguồn nước có thể dùng làm nước uống cho đàn gia súc, gia cầm (vẫn đảm bảo vệ sinh nước uống như lọc nước, khử trùng...) 
- Chủ động xây dựng kế hoạch dự trữ và chế biến các loại phụ phẩm sau khi thu hoạch (đặc biệt là rơm khô) làm thức ăn cho gia súc, gia cầm trước và trong mùa khô hạn.
- Những ngày khô hạn, thực hiện chế độ chuyển bữa ăn, thức ăn tinh, thức ăn hỗn hợp thường chuyển sang cho ăn vào lúc sáng sớm hoặc chiều mát. Tăng cường khẩu phần ăn xanh như rau cỏ tươi, củ, quả và các loại vitamin... tăng cường khẩu phần đạm, giảm tinh bột, mỡ, đường trong khẩu phần đối với từng loại gia súc, gia cầm.
- Chuyển đổi cơ cấu cây trồng: Trồng một số giống cỏ chịu hạn như VA06, giống cỏ lai MULATO II, cỏ GHINE MONBASA, cỏ RUZI, SWEET JUMPO, BURMUDA, H và đặc biệt là cỏ GUATEMALA làm thức ăn cho gia súc ăn cỏ. Đối với những nơi có điều kiện, cần lắp đặt hệ thống tưới tiết kiệm nước cho cây trồng.
- Đảm bảo thường xuyên có đủ nước cho gia súc, gia cầm uống, không làm ẩm ướt nền chuồng và khống chế lượng nước uống cho đàn gia súc, gia cầm vừa đủ để tránh lãng phí. Lắp các thiết bị van nước tự động để luôn cấp đủ nước sạch cho gia súc, gia cầm uống nếu có điều kiện
.
2. Quản lý nuôi dưỡng
- Đối với trâu, bò, dê, cừu chăn thả: Những ngày trời nắng nóng, buổi sáng đi chăn thả sớm và về sớm; buổi chiều chăn thả muộn, về muộn, đặc biệt chú ý chăm sóc gia súc non. Nếu có điều kiện nên di chuyển đàn gia súc đến nơi có nguồn nước và bổ sung thức ăn tại chuồng.
- Đối với lợn: Mật độ nuôi nhốt đối với nái 3-4 m2/con, lợn thịt là 2 m2/con. Cho uống đủ nước và tiết kiệm, ứng dụng đệm lót sinh học trong chăn nuôi lợn nếu có điều kiện có thể tiết kiệm 80% nước tắm lợn và nước rửa chuồng trại kết hợp với các biện pháp chống nóng. Thu gom định kỳ chất thải rắn từ chăn nuôi để ủ compost sử dụng nuôi giun quế (Perionyx excavatus), giun đỏ (Lumbricus rưbellus) để có nguồn đạm bổ sung cho vật nuôi và tiết kiệm nước để làm sạch nền chuồng.
- Đối với gia cầm: Nuôi nhốt với mật độ vừa phải như: Gà con 1-4 tuần tuổi là 10-40 con/m2, gà 0,5-1 kg là 6-9 con/m2, gà1-2kg/con là 4-5 con/m2, gà 2-3 kg là 3-4 con/m2. Tùy nhiệt độ môi trường, đặc tính của gà và mục đích chăn nuôi để điều chỉnh mật độ cho phù hợp. Nếu nóng quá có thể thả ra vườn, gốc cây quanh chuồng. Đối với gà đẻ nên tránh nuôi quá béo bằng cách giảm bớt hàm lượng năng lượng trong khẩu phần, cho ăn thêm rau xanh.
3. Về chuồng trại
- Đối với trang trại chăn nuôi lớn ở vùng khô hạn, có thể áp dụng hệ thống tái sử dụng nước tuần hoàn trong trại để tiết kiệm nước.
- Nên làm chuồng gia súc theo hướng Đông Nam, xa nhà ở nhưng vẫn đảm bảo theo dõi được tình trạng của gia súc, gia cầm. Nếu có điều kiện nên làm nóc hở và có hai mái phụ che phần hở để tăng cường độ thoáng của chuồng.
- Đối với chuồng kín cần cải tạo cho thông thoáng hoặc đặt quạt hút gió để tăng cường đối lưu không khí, giảm nhiệt độ và khí độc trong chuồng.
4. Vệ sinh phòng bệnh
- Định kỳ tẩy giun, sán cho vật nuôi.
- Định kỳ phun thuốc sát trùng để diệt ve, mòng, ruồi, muỗi, bọ mạt... là những tác nhân truyền và gây bệnh.
- Tăng cường vệ sinh tẩy uế chuồng trại và các dụng cụ chăn nuôi.
- Tiêm đầy đủ các loại vacxin cho gia súc, gia cầm để tăng cường khả năng miễn dịch.
- Phát hiện sớm các loại gia súc, gia cầm bị ốm, bị bệnh để cách ly, điều trị, xử lý kịp thời tránh để bệnh lây lan rộng, cần quan tâm nhất là các bệnh đường ruột và tiêu hoá bằng cách chủ động cho gia súc ăn, uống thuốc ở liều phòng bệnh.
- Sau những đợt khô hạn kéo dài, đàn gia súc thường mệt mỏi, tăng tỷ lệ mắc bệnh, giảm lượng sữa, trứng... Vì vậy cần có kế hoạch bổ sung khoáng, vitamin và dinh dưỡng theo tiêu chuẩn.

DKT Biotech- Vet- Công tác chống nóng cho đàn gia súc, gia cầm

Theo dự báo của Trung tâm dự báo khí tượng thủy văn Quốc gia, tình trạng thiếu nước, khô hạn có khả năng xảy ra trên diện rộng ở các tỉnh miền Trung và Tây Nguyên.
Để chủ động, kịp thời phòng chống thiếu nước, giảm thiểu thiệt hại cho vật nuôi, bà con cần thực hiện các biện pháp kỹ thuật sau đây:
1. Chuẩn bị thức ăn, nước uống
- Tận dụng mọi nguồn nước có thể dùng làm nước uống cho đàn gia súc, gia cầm (vẫn đảm bảo vệ sinh nước uống như lọc nước, khử trùng...) 
- Chủ động xây dựng kế hoạch dự trữ và chế biến các loại phụ phẩm sau khi thu hoạch (đặc biệt là rơm khô) làm thức ăn cho gia súc, gia cầm trước và trong mùa khô hạn.
- Những ngày khô hạn, thực hiện chế độ chuyển bữa ăn, thức ăn tinh, thức ăn hỗn hợp thường chuyển sang cho ăn vào lúc sáng sớm hoặc chiều mát. Tăng cường khẩu phần ăn xanh như rau cỏ tươi, củ, quả và các loại vitamin... tăng cường khẩu phần đạm, giảm tinh bột, mỡ, đường trong khẩu phần đối với từng loại gia súc, gia cầm.
- Chuyển đổi cơ cấu cây trồng: Trồng một số giống cỏ chịu hạn như VA06, giống cỏ lai MULATO II, cỏ GHINE MONBASA, cỏ RUZI, SWEET JUMPO, BURMUDA, H và đặc biệt là cỏ GUATEMALA làm thức ăn cho gia súc ăn cỏ. Đối với những nơi có điều kiện, cần lắp đặt hệ thống tưới tiết kiệm nước cho cây trồng.
- Đảm bảo thường xuyên có đủ nước cho gia súc, gia cầm uống, không làm ẩm ướt nền chuồng và khống chế lượng nước uống cho đàn gia súc, gia cầm vừa đủ để tránh lãng phí. Lắp các thiết bị van nước tự động để luôn cấp đủ nước sạch cho gia súc, gia cầm uống nếu có điều kiện
.
2. Quản lý nuôi dưỡng
- Đối với trâu, bò, dê, cừu chăn thả: Những ngày trời nắng nóng, buổi sáng đi chăn thả sớm và về sớm; buổi chiều chăn thả muộn, về muộn, đặc biệt chú ý chăm sóc gia súc non. Nếu có điều kiện nên di chuyển đàn gia súc đến nơi có nguồn nước và bổ sung thức ăn tại chuồng.
- Đối với lợn: Mật độ nuôi nhốt đối với nái 3-4 m2/con, lợn thịt là 2 m2/con. Cho uống đủ nước và tiết kiệm, ứng dụng đệm lót sinh học trong chăn nuôi lợn nếu có điều kiện có thể tiết kiệm 80% nước tắm lợn và nước rửa chuồng trại kết hợp với các biện pháp chống nóng. Thu gom định kỳ chất thải rắn từ chăn nuôi để ủ compost sử dụng nuôi giun quế (Perionyx excavatus), giun đỏ (Lumbricus rưbellus) để có nguồn đạm bổ sung cho vật nuôi và tiết kiệm nước để làm sạch nền chuồng.
- Đối với gia cầm: Nuôi nhốt với mật độ vừa phải như: Gà con 1-4 tuần tuổi là 10-40 con/m2, gà 0,5-1 kg là 6-9 con/m2, gà1-2kg/con là 4-5 con/m2, gà 2-3 kg là 3-4 con/m2. Tùy nhiệt độ môi trường, đặc tính của gà và mục đích chăn nuôi để điều chỉnh mật độ cho phù hợp. Nếu nóng quá có thể thả ra vườn, gốc cây quanh chuồng. Đối với gà đẻ nên tránh nuôi quá béo bằng cách giảm bớt hàm lượng năng lượng trong khẩu phần, cho ăn thêm rau xanh.
3. Về chuồng trại
- Đối với trang trại chăn nuôi lớn ở vùng khô hạn, có thể áp dụng hệ thống tái sử dụng nước tuần hoàn trong trại để tiết kiệm nước.
- Nên làm chuồng gia súc theo hướng Đông Nam, xa nhà ở nhưng vẫn đảm bảo theo dõi được tình trạng của gia súc, gia cầm. Nếu có điều kiện nên làm nóc hở và có hai mái phụ che phần hở để tăng cường độ thoáng của chuồng.
- Đối với chuồng kín cần cải tạo cho thông thoáng hoặc đặt quạt hút gió để tăng cường đối lưu không khí, giảm nhiệt độ và khí độc trong chuồng.
4. Vệ sinh phòng bệnh
- Định kỳ tẩy giun, sán cho vật nuôi.
- Định kỳ phun thuốc sát trùng để diệt ve, mòng, ruồi, muỗi, bọ mạt... là những tác nhân truyền và gây bệnh.
- Tăng cường vệ sinh tẩy uế chuồng trại và các dụng cụ chăn nuôi.
- Tiêm đầy đủ các loại vacxin cho gia súc, gia cầm để tăng cường khả năng miễn dịch.
- Phát hiện sớm các loại gia súc, gia cầm bị ốm, bị bệnh để cách ly, điều trị, xử lý kịp thời tránh để bệnh lây lan rộng, cần quan tâm nhất là các bệnh đường ruột và tiêu hoá bằng cách chủ động cho gia súc ăn, uống thuốc ở liều phòng bệnh.
- Sau những đợt khô hạn kéo dài, đàn gia súc thường mệt mỏi, tăng tỷ lệ mắc bệnh, giảm lượng sữa, trứng... Vì vậy cần có kế hoạch bổ sung khoáng, vitamin và dinh dưỡng theo tiêu chuẩn.
Đọc thêm
Dịch tiêu chảy cấp hoặc PED là bệnh truyền nhiễm trên heo nguyên do virus gây ra (PEDV). PEDV được phân loại là RNA virus thuộc nhóm 1 chủng Corona. Virus Corona có chiều hướng biến đổi nhanh và thường xuyên. Bệnh viêm Dạ dày-Ruột truyền nhiễm (TGE) & Bệnh hô hấp do Corona (PRCV) và những virus gây bệnh heo và thuộc nhóm Corona.
Điều trị và phòng chống dịch tiêu chảy cấp trên heo
Hiện tại, không có  biện  pháp  điều  trị  cho  PED. Hiện  có vaccine sống giảm hoạt lực virus giúp heo nái cải thiện khả năng  chống  lại  virus. Tuy  nhiên, nhiều  báo  cáo  cho  thấy hiệu quả của vaccin luôn không ổn định. Trường hợp trại nổ dịch, làm theo những bước bên dưới để giúp giảm thiểu thiệt hại kinh tế và đảm bảo không tái phát bệnh PED.
a. Vaccin tự chế
Quy trình đòi hỏi hy sinh một vài heo con có biểu hiện rõ triệu chứng lâm sàng của bệnh PED. Các bước tiến hành như sau:
Lựa ra 3 heo còn sống (từ 1 ngày đến 3 ngày tuổi) có biểu hiện dấu hiệu bệnh. Với 3 bộ ruột non này có thể làm thành 1 lít vaccin (vaccin tự chế).
Hy sinh các heo con này lấy đoạn ruột gồm: tá tràng- hồi tràng, dịch chất bên trong. Điều này rất quan trọng vì virus nằm trong tế bào nhung mao và tế bào bong tróc vào lòng ruột. Không sử dụng ruột đã bị mỏng và trong suốt vì không có đủ lượng virus bên trong.
Cắt nhỏ hoặc nghiền ruột non và bổ sung 250ml nước chưng cất tiệt trùng để tạo thành hỗn hợp sệt. Kháng sinh (colistin hoặc gentamycin) có thể được bổ sung để giảm tạp nhiễm vi khuẩn.
Cho heo tơ và heo nái ăn dung dịch sệt này với liều 30-50ml 1 lần/ngày trong 5-7 ngày. Ngừng cung cấp dung dịch cho heo nái có biểu hiện tiêu chảy.
b. Thực hành quản lý trại
Xây dựng hệ thống an toàn sinh học:
  • Hàng  rào  xung  quanh  trại  kiểm  soát  người  và động vật vào trại.
  • Đặt mua và thay thế heo nọc và nái tơ từ những trại  giống  đã  kiểm  chứng  không  có  bệnh  PED.
  • Xe tải vận chuyển thức ăn phải đến thẳng từ nhà máy thức ăn và không được qua trại khác.
  • Rửa tay và sát trùng ủng tại các điểm vào trại.
  • Kiểm soát vật nuôi, côn trùng (chuột, gặm nhấm, ruồi muỗi) và chim (chim trên máy nhà).
  • Người vào trại phải kiểm soát và cách ly (48 giờ – và không có tiếp xúc với heo/quầy thịt/thịt heo).
  • Tất cả khách thăm trại và nhân viên khi vào trại phải tắm và thay đổi quần áo, ủng do trại cung cấp.
  • Trong trường hợp nghi ngờ, kiểm tra ELISA test trước khi chuyển nọc và nái về trại.
  • Những người không được cho phép không được bước vào trại. Lái heo, lái xe tải không được phép tiếp xúc với heo và nhân viên trong trại.
  • Xe tải vận chuyển thú không rửa xe trong khuôn viên trại. Chỉ cho phép các xe đã áp dụng rửa sạch và khử trùng đúng cách được phép vào trong trại.
Kiểm soát dòng di chuyển heo đúng cách:
  • Tránh tắc nghẽn.
  • Phương pháp làm sạch và vệ sinh đúng cách:
  • Làm sạch máng ăn/thức ăn hàng ngày.
  • Làm sạch sàn, tường, hệ thống thoát nước.
  • Sát trùng và phun sát trùng từ 2-3 lần/tuần.
  • Tránh ghép đàn heo từ nhiều nguồn trại.
  • Kiểm  soát  giai  đoạn  trống  chuồng  hợp  lý.
  • Thường từ 5-7 ngày để trống tính từ thời điểm làm sạch và sát trùng chuồng và không tính từ thời gian lúc chuồng để trống.
  • Làm sạch và sát trùng kim tiêm sử dụng lại và những vật dụng trong trại. Bảo quản thuốc hợp lý. Chỉ sử dụng kim tiêm vaccin một lần.
  • Loại bỏ thú chết ở những nơi hợp lý.
Chiến lược dinh dưỡng:
  • Cung cấp thức ăn cân đối dinh dưỡng và bổ dưỡng
  • Loại bỏ thức ăn vấy nhiễm, nguyên nhân gây suy giảm miễn dịch như:
- Độc tố nấm mốc – bổ sung chất hấp phụ độc tố nấm mốc
- Dioxins,  PCBs,  kim loại nặng  –  nên chuyển đổi sang sử dụng khoáng hữu cơ
  • Chất kích thích miễn dịch có thể sử dụng vào trong thức ăn chăn nuôi giúp heo đáp ứng miễn dịch tốt hơn với bệnh dịch.
- Immunoglobulins từ trứng
- Nucleotides
- Nhân tế bào nấm men
Tăng độ thoải mái cho heo:
  • Tránh stress do nóng hoặc lạnh. Kiểm soát nhiệt độ thích hợp cho từng giai đoạn heo.
  • Tránh nuôi heo quá chật. Kiểm soát mật độ heo (số heo/chuồng) và diện tích sàn…
  • Cung cấp hệ thống quạt thông thoáng thích hợp.
  • Hạn chế di chuyển heo.

DKT Biotech- Vet- Phòng trị lây nhiễm dịch tiêu chảy cấp trên heo con (PED)

Dịch tiêu chảy cấp hoặc PED là bệnh truyền nhiễm trên heo nguyên do virus gây ra (PEDV). PEDV được phân loại là RNA virus thuộc nhóm 1 chủng Corona. Virus Corona có chiều hướng biến đổi nhanh và thường xuyên. Bệnh viêm Dạ dày-Ruột truyền nhiễm (TGE) & Bệnh hô hấp do Corona (PRCV) và những virus gây bệnh heo và thuộc nhóm Corona.
Điều trị và phòng chống dịch tiêu chảy cấp trên heo
Hiện tại, không có  biện  pháp  điều  trị  cho  PED. Hiện  có vaccine sống giảm hoạt lực virus giúp heo nái cải thiện khả năng  chống  lại  virus. Tuy  nhiên, nhiều  báo  cáo  cho  thấy hiệu quả của vaccin luôn không ổn định. Trường hợp trại nổ dịch, làm theo những bước bên dưới để giúp giảm thiểu thiệt hại kinh tế và đảm bảo không tái phát bệnh PED.
a. Vaccin tự chế
Quy trình đòi hỏi hy sinh một vài heo con có biểu hiện rõ triệu chứng lâm sàng của bệnh PED. Các bước tiến hành như sau:
Lựa ra 3 heo còn sống (từ 1 ngày đến 3 ngày tuổi) có biểu hiện dấu hiệu bệnh. Với 3 bộ ruột non này có thể làm thành 1 lít vaccin (vaccin tự chế).
Hy sinh các heo con này lấy đoạn ruột gồm: tá tràng- hồi tràng, dịch chất bên trong. Điều này rất quan trọng vì virus nằm trong tế bào nhung mao và tế bào bong tróc vào lòng ruột. Không sử dụng ruột đã bị mỏng và trong suốt vì không có đủ lượng virus bên trong.
Cắt nhỏ hoặc nghiền ruột non và bổ sung 250ml nước chưng cất tiệt trùng để tạo thành hỗn hợp sệt. Kháng sinh (colistin hoặc gentamycin) có thể được bổ sung để giảm tạp nhiễm vi khuẩn.
Cho heo tơ và heo nái ăn dung dịch sệt này với liều 30-50ml 1 lần/ngày trong 5-7 ngày. Ngừng cung cấp dung dịch cho heo nái có biểu hiện tiêu chảy.
b. Thực hành quản lý trại
Xây dựng hệ thống an toàn sinh học:
  • Hàng  rào  xung  quanh  trại  kiểm  soát  người  và động vật vào trại.
  • Đặt mua và thay thế heo nọc và nái tơ từ những trại  giống  đã  kiểm  chứng  không  có  bệnh  PED.
  • Xe tải vận chuyển thức ăn phải đến thẳng từ nhà máy thức ăn và không được qua trại khác.
  • Rửa tay và sát trùng ủng tại các điểm vào trại.
  • Kiểm soát vật nuôi, côn trùng (chuột, gặm nhấm, ruồi muỗi) và chim (chim trên máy nhà).
  • Người vào trại phải kiểm soát và cách ly (48 giờ – và không có tiếp xúc với heo/quầy thịt/thịt heo).
  • Tất cả khách thăm trại và nhân viên khi vào trại phải tắm và thay đổi quần áo, ủng do trại cung cấp.
  • Trong trường hợp nghi ngờ, kiểm tra ELISA test trước khi chuyển nọc và nái về trại.
  • Những người không được cho phép không được bước vào trại. Lái heo, lái xe tải không được phép tiếp xúc với heo và nhân viên trong trại.
  • Xe tải vận chuyển thú không rửa xe trong khuôn viên trại. Chỉ cho phép các xe đã áp dụng rửa sạch và khử trùng đúng cách được phép vào trong trại.
Kiểm soát dòng di chuyển heo đúng cách:
  • Tránh tắc nghẽn.
  • Phương pháp làm sạch và vệ sinh đúng cách:
  • Làm sạch máng ăn/thức ăn hàng ngày.
  • Làm sạch sàn, tường, hệ thống thoát nước.
  • Sát trùng và phun sát trùng từ 2-3 lần/tuần.
  • Tránh ghép đàn heo từ nhiều nguồn trại.
  • Kiểm  soát  giai  đoạn  trống  chuồng  hợp  lý.
  • Thường từ 5-7 ngày để trống tính từ thời điểm làm sạch và sát trùng chuồng và không tính từ thời gian lúc chuồng để trống.
  • Làm sạch và sát trùng kim tiêm sử dụng lại và những vật dụng trong trại. Bảo quản thuốc hợp lý. Chỉ sử dụng kim tiêm vaccin một lần.
  • Loại bỏ thú chết ở những nơi hợp lý.
Chiến lược dinh dưỡng:
  • Cung cấp thức ăn cân đối dinh dưỡng và bổ dưỡng
  • Loại bỏ thức ăn vấy nhiễm, nguyên nhân gây suy giảm miễn dịch như:
- Độc tố nấm mốc – bổ sung chất hấp phụ độc tố nấm mốc
- Dioxins,  PCBs,  kim loại nặng  –  nên chuyển đổi sang sử dụng khoáng hữu cơ
  • Chất kích thích miễn dịch có thể sử dụng vào trong thức ăn chăn nuôi giúp heo đáp ứng miễn dịch tốt hơn với bệnh dịch.
- Immunoglobulins từ trứng
- Nucleotides
- Nhân tế bào nấm men
Tăng độ thoải mái cho heo:
  • Tránh stress do nóng hoặc lạnh. Kiểm soát nhiệt độ thích hợp cho từng giai đoạn heo.
  • Tránh nuôi heo quá chật. Kiểm soát mật độ heo (số heo/chuồng) và diện tích sàn…
  • Cung cấp hệ thống quạt thông thoáng thích hợp.
  • Hạn chế di chuyển heo.
Đọc thêm
[Những giải pháp xử lý phèn cho ao nuôi]Phòng hiện tượng nhiễm lại phèn, nên kết hợp sử dụng phương pháp nâng cao ôxy, sử dụng vôi nung, cung cấp dinh dưỡng, sử dụng vi khuẩn quang hợp (EM). Ngoài ra, trong quá trình cải tạo ao, cần bổ sung canxi, magie, phospho...
Phát hiện phèn
Vào mùa mưa, ao nuôi thủy sản có thể bị xì phèn hoặc mưa làm rửa trôi phèn trên bờ ao xuống. Người nuôi có thể quan sát được ao nuôi có bị phèn hay không qua một số hiện tượng sau:
• Nước ao chuyển màu và trong hơn hoặc màu trà nhạt, có váng vàng nhạt nổi trên mặt nước, pH giảm.
• Ở những ao mặt nước trong xanh, đất quanh bờ có màu xám ít cỏ mọc hoặc cỏ năng mọc lác đác từng chòm thì ruộng đó có thể bị phèn nhôm.
• Ở những ao, mặt nước có váng màu đỏ thì ao, ruộng đó có thể bị phèn sắt.
Nếu tầng sinh phèn sâu (dưới mặt đất 1 - 2 m hoặc sâu hơn) thì lượng phèn trong ao và trên bề mặt ruộng ít. Nếu tầng sinh phèn nông (cách lớp đất mặt dưới 1 m) thì lượng phèn trong ao và trên bề mặt ruộng sẽ nhiều, biện pháp cải tạo sẽ khó khăn hơn.
Quan sát vật nuôi trong ao
• Đối với tôm nuôi: Mang tôm có màu vàng, thân tôm chuyển sang màu vàng, vỏ tôm có thể cứng hơn bình thường, tôm bỏ ăn sau mưa. Tôm bắt đầu bỏ ăn sau những trận mưa kéo dài. Nếu ao bị nhiễm phèn nặng tôm có thể tấp mé và chết rải rác do phèn bám vào mang tôm nhiều làm cản trở quá trình lấy ôxy của tôm trong ao. Nước ao chuyển màu và trở nên trong hơn hoặc màu trà nhạt nhưng khi kiểm tra không thấy tảo.
• Đối với cá, khi độ phèn cao, da cá chuyển màu đen, cá gầy đi và chậm lớn, nếu pH xuống quá thấp có hiện tượng cá chết hàng loạt.
Phòng tính phèn cao
Phòng hiện tượng nhiễm lại phèn, nên kết hợp sử dụng phương pháp nâng cao ôxy, sử dụng vôi nung, cung cấp dinh dưỡng, sử dụng vi khuẩn quang hợp (EM). Ngoài ra, trong quá trình cải tạo ao, cần bổ sung canxi, magie, phospho; đây cũng là một phương pháp tốt. Có thể sử dụng phương pháp nén phèn của người trồng lúa để nén phèn: Dùng canxi, magie, photpho 5 kg/1.000 m3, ao đáy đất cát sử dụng 3,5 kg/1.000 m3. Ao đáy cát sử dụng 2 kg/1.000 m3.
Bón vôi
Mục đích để nâng pH đáy ao, khử phèn đồng thời tạo hệ đệm trong ao nuôi liều lượng 15 - 20 kg/100 m2, vôi được rải đều xuống đáy và bờ ao. Tuy nhiên, khi bón vôi đá hoặc vôi nóng cần phải thực hiện trong lúc chiều mát sau đó cấp nước và ao ngay hôm sau, không nên rải vôi và phơi ao trong thời gian quá lâu. Dùng máy đo hoặc quỳ tím để đo pH đáy; nếu pH vẫn thấp thì nên bón thêm vôi, điều chỉnh pH từ 7,5 trở lên.
Xử lý bằng cách bón lân
Khi bón lân đáy ao sẽ giúp khử Fe giải phóng phospho từ đó giúp gây màu nước trong ao tôm dễ dàng hơn, tuy nhiên, tảo độc trong ao sẽ phát triển mạnh gây mất cân bằng, vì thế cần phải xử lý tảo sau khi đã xử lý phèn bằng lân.
Sử dụng vi sinh
Hiện nay, phương pháp sử dụng vi sinh xử lý phèn được nhiều người nuôi sử dụng mang lại hiệu quả rất cao. Bằng cách sử dụng các loại vi khuẩn có khả năng phân hủy phèn rải đều vào ao nuôi, sau 3 - 5 ngày vi khuẩn sẽ phân hủy các chất gây phèn làm cho ao nuôi hết phèn. Ưu điểm của phương pháp này là rất tiết kiệm, vì không phải xử lý phèn lại nhiều lần, hiệu quả mang lại rất cao.
Xử lý đáy ao
Mỗi năm, sau khi thu hoạch, nên kịp thời tháo nước để phơi đáy ao, cho lớp bùn đen tầng đáy ao ôxy hóa chuyển thành màu trắng. Thời gian phơi ao không dưới một tháng. Sau khi phơi, tiến hành ngâm đáy ao, rửa những chất có hại trong ao, lần ngâm đầu tiên 7 - 10 ngày.
Sau khi ngâm, phơi, tháo cạn nước cần rải vôi với lượng: Ao đáy cát sử dụng 52 kg/1.000 m2; đáy ao đất, cát sử dụng 112 kg/1.000 m2; đáy ao đất sử dụng 150 kg/1.000 m2; Sau đó, cày bừa trộn lẫn vôi với đất đáy ao, nâng cao độ thấm cho tầng đáy, nâng cao độ pH đất tầng đáy. Cày lật đất đáy 10 - 15 cm để phơi, ôxy hóa triệt để. Khoảng 10 ngày sau lại cho nước vào ngâm tiếp. Tốt nhất nên ngâm rửa ao nhiều lần. Thông qua nhiều lần cày, phơi, ngâm, sẽ loại bỏ được mùi hôi trong đáy ao, khôi phục được môi trường lành mạnh.
Trước khi thả giống khoảng 45 ngày, nên tháo cạn nước; Chỗ trũng, có nước, nên dùng TCCA tạt khắp ao, để diệt khuẩn tôm, cá, cua, tạp. Sau khi diệt chết tôm, cá, cua ba ngày, sử dụng vi khuẩn Bacilus nồng độ cao để xử lý, hoạt hóa đáy ao.
Xử lý ao
Đối với ao nuôi bị nhiễm phèn tiềm tàng trong đất thì không nên phơi ao quá lâu vì các vết nứt lớn sẽ chứa nhiều ôxy sẽ ôxy hóa Pyrit sắt và khi cấp nước vào chất này sẽ được giải phòng tạo nên phèn đỏ rất khó để xử lý.
Đối với ao đất phèn, nên tăng công suất của dàn quạt nước từ 25 lên 30 hp/ha và thay dàn quạt cánh bằng quạt lông nhím nhằm cung cấp đủ dưỡng khí cho tôm.
Lấy nước vào ao 1,2 - 1,5 m, khử trùng và bật quạt nước, đo lại pH; nếu chỉ số này vẫn thấp thì có thể dùng vôi và vôi đen (dolomite) hòa loãng lấy nước tạt vào buổi đêm liều lượng 2 - 4 kg/100 m2, nếu nước bị đục và có váng phèn thì có thể dùng EDTA để keo tụ váng phèn. Nếu người nuôi có khả năng về kinh tế thì có thể đầu tư trải bạt toàn bộ nền đáy và bờ ao để ngăn xì phèn là tốt nhất.
Lưu ý: Sau mỗi trận mưa, nước mưa có chứa axit và lượng xì phèn trên bờ có thể trôi xuống ao làm giảm pH. Do đó, cần dùng Zeolite để keo tụ chất vẩn, sau đó sử dụng chế phẩm sinh học để khoáng hóa đáy ao, đồng thời dùng vôi dolomite hòa vào nước ngọt 24 giờ; sau đó tạt đều xuống ao lúc 8 - 10 giờ đêm, liều lượng 1,7 kg/100 m3 nước. Nên rải vôi nông nghiệp quanh bờ ao trước khi trời mưa; khi mưa to, mực nước ao nuôi lên cao, cần xả bớt nước mặt để tránh giảm độ mặn đột ngột và tràn bờ, vỡ bọng, cống, kết hợp quạt nước để tránh hiện tượng phân tầng nước.
Trời sắp mưa, cần giảm lượng thức ăn hoặc thậm chí ngừng cho ăn, chờ đến khi ngớt mưa, cho ăn với số lượng giảm 30 - 50% lượng thức ăn bình thường. Để bảo đảm sức đề kháng và tránh cho tôm bị mềm vỏ, có thể trộn men vi sinh, khoáng chất và Vitamin C vào bữa chính cho tôm ăn mỗi ngày.
BiotechViet tổng hợp

DKT Biotech- Vet- Những giải pháp xử lý phèn cho ao nuôi

[Những giải pháp xử lý phèn cho ao nuôi]Phòng hiện tượng nhiễm lại phèn, nên kết hợp sử dụng phương pháp nâng cao ôxy, sử dụng vôi nung, cung cấp dinh dưỡng, sử dụng vi khuẩn quang hợp (EM). Ngoài ra, trong quá trình cải tạo ao, cần bổ sung canxi, magie, phospho...
Phát hiện phèn
Vào mùa mưa, ao nuôi thủy sản có thể bị xì phèn hoặc mưa làm rửa trôi phèn trên bờ ao xuống. Người nuôi có thể quan sát được ao nuôi có bị phèn hay không qua một số hiện tượng sau:
• Nước ao chuyển màu và trong hơn hoặc màu trà nhạt, có váng vàng nhạt nổi trên mặt nước, pH giảm.
• Ở những ao mặt nước trong xanh, đất quanh bờ có màu xám ít cỏ mọc hoặc cỏ năng mọc lác đác từng chòm thì ruộng đó có thể bị phèn nhôm.
• Ở những ao, mặt nước có váng màu đỏ thì ao, ruộng đó có thể bị phèn sắt.
Nếu tầng sinh phèn sâu (dưới mặt đất 1 - 2 m hoặc sâu hơn) thì lượng phèn trong ao và trên bề mặt ruộng ít. Nếu tầng sinh phèn nông (cách lớp đất mặt dưới 1 m) thì lượng phèn trong ao và trên bề mặt ruộng sẽ nhiều, biện pháp cải tạo sẽ khó khăn hơn.
Quan sát vật nuôi trong ao
• Đối với tôm nuôi: Mang tôm có màu vàng, thân tôm chuyển sang màu vàng, vỏ tôm có thể cứng hơn bình thường, tôm bỏ ăn sau mưa. Tôm bắt đầu bỏ ăn sau những trận mưa kéo dài. Nếu ao bị nhiễm phèn nặng tôm có thể tấp mé và chết rải rác do phèn bám vào mang tôm nhiều làm cản trở quá trình lấy ôxy của tôm trong ao. Nước ao chuyển màu và trở nên trong hơn hoặc màu trà nhạt nhưng khi kiểm tra không thấy tảo.
• Đối với cá, khi độ phèn cao, da cá chuyển màu đen, cá gầy đi và chậm lớn, nếu pH xuống quá thấp có hiện tượng cá chết hàng loạt.
Phòng tính phèn cao
Phòng hiện tượng nhiễm lại phèn, nên kết hợp sử dụng phương pháp nâng cao ôxy, sử dụng vôi nung, cung cấp dinh dưỡng, sử dụng vi khuẩn quang hợp (EM). Ngoài ra, trong quá trình cải tạo ao, cần bổ sung canxi, magie, phospho; đây cũng là một phương pháp tốt. Có thể sử dụng phương pháp nén phèn của người trồng lúa để nén phèn: Dùng canxi, magie, photpho 5 kg/1.000 m3, ao đáy đất cát sử dụng 3,5 kg/1.000 m3. Ao đáy cát sử dụng 2 kg/1.000 m3.
Bón vôi
Mục đích để nâng pH đáy ao, khử phèn đồng thời tạo hệ đệm trong ao nuôi liều lượng 15 - 20 kg/100 m2, vôi được rải đều xuống đáy và bờ ao. Tuy nhiên, khi bón vôi đá hoặc vôi nóng cần phải thực hiện trong lúc chiều mát sau đó cấp nước và ao ngay hôm sau, không nên rải vôi và phơi ao trong thời gian quá lâu. Dùng máy đo hoặc quỳ tím để đo pH đáy; nếu pH vẫn thấp thì nên bón thêm vôi, điều chỉnh pH từ 7,5 trở lên.
Xử lý bằng cách bón lân
Khi bón lân đáy ao sẽ giúp khử Fe giải phóng phospho từ đó giúp gây màu nước trong ao tôm dễ dàng hơn, tuy nhiên, tảo độc trong ao sẽ phát triển mạnh gây mất cân bằng, vì thế cần phải xử lý tảo sau khi đã xử lý phèn bằng lân.
Sử dụng vi sinh
Hiện nay, phương pháp sử dụng vi sinh xử lý phèn được nhiều người nuôi sử dụng mang lại hiệu quả rất cao. Bằng cách sử dụng các loại vi khuẩn có khả năng phân hủy phèn rải đều vào ao nuôi, sau 3 - 5 ngày vi khuẩn sẽ phân hủy các chất gây phèn làm cho ao nuôi hết phèn. Ưu điểm của phương pháp này là rất tiết kiệm, vì không phải xử lý phèn lại nhiều lần, hiệu quả mang lại rất cao.
Xử lý đáy ao
Mỗi năm, sau khi thu hoạch, nên kịp thời tháo nước để phơi đáy ao, cho lớp bùn đen tầng đáy ao ôxy hóa chuyển thành màu trắng. Thời gian phơi ao không dưới một tháng. Sau khi phơi, tiến hành ngâm đáy ao, rửa những chất có hại trong ao, lần ngâm đầu tiên 7 - 10 ngày.
Sau khi ngâm, phơi, tháo cạn nước cần rải vôi với lượng: Ao đáy cát sử dụng 52 kg/1.000 m2; đáy ao đất, cát sử dụng 112 kg/1.000 m2; đáy ao đất sử dụng 150 kg/1.000 m2; Sau đó, cày bừa trộn lẫn vôi với đất đáy ao, nâng cao độ thấm cho tầng đáy, nâng cao độ pH đất tầng đáy. Cày lật đất đáy 10 - 15 cm để phơi, ôxy hóa triệt để. Khoảng 10 ngày sau lại cho nước vào ngâm tiếp. Tốt nhất nên ngâm rửa ao nhiều lần. Thông qua nhiều lần cày, phơi, ngâm, sẽ loại bỏ được mùi hôi trong đáy ao, khôi phục được môi trường lành mạnh.
Trước khi thả giống khoảng 45 ngày, nên tháo cạn nước; Chỗ trũng, có nước, nên dùng TCCA tạt khắp ao, để diệt khuẩn tôm, cá, cua, tạp. Sau khi diệt chết tôm, cá, cua ba ngày, sử dụng vi khuẩn Bacilus nồng độ cao để xử lý, hoạt hóa đáy ao.
Xử lý ao
Đối với ao nuôi bị nhiễm phèn tiềm tàng trong đất thì không nên phơi ao quá lâu vì các vết nứt lớn sẽ chứa nhiều ôxy sẽ ôxy hóa Pyrit sắt và khi cấp nước vào chất này sẽ được giải phòng tạo nên phèn đỏ rất khó để xử lý.
Đối với ao đất phèn, nên tăng công suất của dàn quạt nước từ 25 lên 30 hp/ha và thay dàn quạt cánh bằng quạt lông nhím nhằm cung cấp đủ dưỡng khí cho tôm.
Lấy nước vào ao 1,2 - 1,5 m, khử trùng và bật quạt nước, đo lại pH; nếu chỉ số này vẫn thấp thì có thể dùng vôi và vôi đen (dolomite) hòa loãng lấy nước tạt vào buổi đêm liều lượng 2 - 4 kg/100 m2, nếu nước bị đục và có váng phèn thì có thể dùng EDTA để keo tụ váng phèn. Nếu người nuôi có khả năng về kinh tế thì có thể đầu tư trải bạt toàn bộ nền đáy và bờ ao để ngăn xì phèn là tốt nhất.
Lưu ý: Sau mỗi trận mưa, nước mưa có chứa axit và lượng xì phèn trên bờ có thể trôi xuống ao làm giảm pH. Do đó, cần dùng Zeolite để keo tụ chất vẩn, sau đó sử dụng chế phẩm sinh học để khoáng hóa đáy ao, đồng thời dùng vôi dolomite hòa vào nước ngọt 24 giờ; sau đó tạt đều xuống ao lúc 8 - 10 giờ đêm, liều lượng 1,7 kg/100 m3 nước. Nên rải vôi nông nghiệp quanh bờ ao trước khi trời mưa; khi mưa to, mực nước ao nuôi lên cao, cần xả bớt nước mặt để tránh giảm độ mặn đột ngột và tràn bờ, vỡ bọng, cống, kết hợp quạt nước để tránh hiện tượng phân tầng nước.
Trời sắp mưa, cần giảm lượng thức ăn hoặc thậm chí ngừng cho ăn, chờ đến khi ngớt mưa, cho ăn với số lượng giảm 30 - 50% lượng thức ăn bình thường. Để bảo đảm sức đề kháng và tránh cho tôm bị mềm vỏ, có thể trộn men vi sinh, khoáng chất và Vitamin C vào bữa chính cho tôm ăn mỗi ngày.
BiotechViet tổng hợp
Đọc thêm