Sau gần 3 tháng bùng phát ổ dịch tả lợn châu Phi, tại các trang trại chăn nuôi ở nhiều địa phương... đã hết lợn. Điều đáng nói là đến giờ người chăn nuôi có lợn bị tiêu hủy trong đợt dịch vừa qua vẫn chưa nhận được tiền hỗ trợ.


Sau nhiều ngày mất lợn vì dịch tả lợn châu Phi, vợ chồng ông Nguyễn Văn Hoàng ở xã Tây Đô, huyện Hưng Hà (Thái Bình) chỉ còn biết trông vào mấy sào rau, khoai để cầm cự. "Thường ngày nuôi lợn, có phân chăm bón hoa màu rất thuận lợi nhưng giờ đàn lợn không còn, mọi thứ bị đảo lộn, phân bón phải đi mua, phụ phẩm nông nghiệp thừa vứt thối ngoài ruộng, đau xót lắm" - ông Hoàng nói.

Dù không nuôi nhiều nhưng đàn lợn hơn chục con cũng là nguồn thu nhập chính của gia đình ông Hoàng bấy lâu nay. Vừa thu dọn chuồng trại, ông Hoàng buồn rầu bảo: "Hơn 20 năm sống vì lợn, giờ "trắng tay", sắp tới chúng tôi không biết lấy gì để sống". Hơn 2 tháng nhưng đến giờ gia đình ông Hoàng và bà con ở xã Tây Đô vẫn chưa nhận được tiền hỗ trợ.

Ông Nguyễn Xuân Dương - Chủ tịch UBND huyện Hưng Hà cho hay: Hiện tại, tiền hỗ trợ người dân có lợn bị tiêu hủy trong các đợt dịch tả lợn châu Phi vẫn chưa có, địa phương vẫn đang tiến hành thống kê, lập danh sách các hộ bị thiệt hại gửi lên tỉnh, Trung ương để chờ cấp kinh phí.

"Nhà nước chậm hỗ trợ sẽ khiến cuộc sống của bà con gặp nhiều khó khăn nhưng rất mong mọi người bình tĩnh và chia sẻ với chúng tôi" - ông Dương nói

Ông Vũ Xuân Khu - Chủ tịch UBND xã Lô Giang, huyện Đông Hưng (Thái Bình) cho hay: Hiện, các trại lợn tại các xã lân cận đã hết lợn và cơ bản hết dịch. Riêng Lô Giang còn khoảng 500 con nhưng cũng đang cầm cự rất vất vả, khả năng khó giữ được lâu. Dù Lô Giang đã cán đích nông thôn mới vào cuối năm 2018 song dịch tả lợn châu Phi bùng phát khiến nhiều tiêu chí bị ảnh hưởng, trong đó nặng nhất là tiêu chí thu nhập, hộ nghèo.

Biotech-VET- Dịch tả lợn châu phi - Dân mỏi mòn chờ hỗ trợ

Sau gần 3 tháng bùng phát ổ dịch tả lợn châu Phi, tại các trang trại chăn nuôi ở nhiều địa phương... đã hết lợn. Điều đáng nói là đến giờ người chăn nuôi có lợn bị tiêu hủy trong đợt dịch vừa qua vẫn chưa nhận được tiền hỗ trợ.


Sau nhiều ngày mất lợn vì dịch tả lợn châu Phi, vợ chồng ông Nguyễn Văn Hoàng ở xã Tây Đô, huyện Hưng Hà (Thái Bình) chỉ còn biết trông vào mấy sào rau, khoai để cầm cự. "Thường ngày nuôi lợn, có phân chăm bón hoa màu rất thuận lợi nhưng giờ đàn lợn không còn, mọi thứ bị đảo lộn, phân bón phải đi mua, phụ phẩm nông nghiệp thừa vứt thối ngoài ruộng, đau xót lắm" - ông Hoàng nói.

Dù không nuôi nhiều nhưng đàn lợn hơn chục con cũng là nguồn thu nhập chính của gia đình ông Hoàng bấy lâu nay. Vừa thu dọn chuồng trại, ông Hoàng buồn rầu bảo: "Hơn 20 năm sống vì lợn, giờ "trắng tay", sắp tới chúng tôi không biết lấy gì để sống". Hơn 2 tháng nhưng đến giờ gia đình ông Hoàng và bà con ở xã Tây Đô vẫn chưa nhận được tiền hỗ trợ.

Ông Nguyễn Xuân Dương - Chủ tịch UBND huyện Hưng Hà cho hay: Hiện tại, tiền hỗ trợ người dân có lợn bị tiêu hủy trong các đợt dịch tả lợn châu Phi vẫn chưa có, địa phương vẫn đang tiến hành thống kê, lập danh sách các hộ bị thiệt hại gửi lên tỉnh, Trung ương để chờ cấp kinh phí.

"Nhà nước chậm hỗ trợ sẽ khiến cuộc sống của bà con gặp nhiều khó khăn nhưng rất mong mọi người bình tĩnh và chia sẻ với chúng tôi" - ông Dương nói

Ông Vũ Xuân Khu - Chủ tịch UBND xã Lô Giang, huyện Đông Hưng (Thái Bình) cho hay: Hiện, các trại lợn tại các xã lân cận đã hết lợn và cơ bản hết dịch. Riêng Lô Giang còn khoảng 500 con nhưng cũng đang cầm cự rất vất vả, khả năng khó giữ được lâu. Dù Lô Giang đã cán đích nông thôn mới vào cuối năm 2018 song dịch tả lợn châu Phi bùng phát khiến nhiều tiêu chí bị ảnh hưởng, trong đó nặng nhất là tiêu chí thu nhập, hộ nghèo.

Đọc thêm
Cầu trùng ở lợn là bệnh do ký sinh trùng Isospora suis, thuộc nhóm protozoa nội bào gây ra, bệnh xảy ra cho heo mọi lứa tuổi nhưng thường gặp nhất ở heo con theo mẹ, tập trung ở heo trong giai đoạn 8 -15 ngày tuổi. 


1. Triệu chứng quan trọng nhất của bệnh

Những đàn lợn trong chuồng đẻ có biểu hiện mức độ lâm sàng khác nhau và không phải tất cả lợn con trong cùng một lứa đẻ đều bị ảnh hưởng giống nhau.

Những triệu chứng quan trọng nhất của bệnh cầu trùng:

- Tiêu chảy sền sệt đến lỏng chuyển sang lỏng hơn khi nhiễm trùng nặng. Trên thân lợn dính đầy phân lỏng, luôn ẩm ướt và có mùi ôi.

- Giảm trọng lượng cơ thể khi cai sữa.

- Lợn còi cọc, mất nước, xù lông.

2. Nguyên nhân

Do một loại ký sinh trùng nhỏ có tên Isospora suis gây ra. Ký sinh trùng này sống và nhân lên trong tế bào vật chủ, chủ yếu là tế bào đường ruột. Đây là một động vật nguyên sinh, sinh sản rất nhanh với thời gian ủ bệnh khoảng 4 - 6 ngày. Trong một thời gian ngắn nó tự hoàn thành vòng đời và lợn bắt đầu thải ra những thế hệ nang noãn mới. Điều này cho thấy chúng đã phá hủy nhung mao và màng ruột trong quá trình ủ bệnh.

Để hoàn thành vòng đời ký sinh trùng này phải mất 5 - 10 ngày, do đó bệnh sẽ không biểu hiện triệu chứng ở lợn con trước 5 ngày tuổi.

3. Chuẩn đoán

Chúng ta có thể nghi ngờ bệnh do cầu trùng nếu lợn con theo mẹ có các triệu chứng tiêu chảy và điều trị kháng sinh ít có hiệu quả.

Sức khỏe đường ruột lợn con ảnh hưởng đến sự tăng trưởng, nhiễm khuẩn kế phát và hiệu quả sử dụng thức ăn say này.

Việc bảo vệ niêm mạc ruột khỏi cầu trùng ở lợn con theo mẹ rất quan trọng trong phòng ngừa chậm lớn và thiệt hại kinh tế do nhiễm khuẩn đường ruột trước và sau cai sữa.

4. Biện pháp phòng ngừa

Để kiểm soát bệnh hiệu quả phải sử dụng nhiều biện pháp đồng bộ như:

- Dọn sạch phân, cọ rửa sạch sẽ chuồng trại hằng ngày.

- Không cho lợn con tiếp xúc với phân và các chất độn chuồng để tránh nguy cơ tiếp xúc mầm bệnh.

- Sử dụng các thuốc ngừa cầu trùng cho lợn.

5. Điều trị

Sử dụng BTV- SULCOC hoặc BTV - SULFALIN, đặc trị bệnh cầu trùng một cách hiệu quả nhất

Trường hợp lợn tiêu chảy nặng, phân lẫn máu cần kết hợp thêm các thuốc trợ lực khác để lợn nhanh chóng hồi phục như: BTV - Vitamin K-C, B-Complex, Kháng thể E.COLI THT.

- Cung cấp đầy đủ nước và các chất điện giải như BTV - ĐIỆN GIẢI-GLUCO C

- Bổ sung men tiêu hóa vào trong thức ăn.

- Sát trùng chuồng trại hằng ngày bằng BTV-GLUTAR 10ml/2-4lit nước, liên tục trong 7 ngày để diệt kén hợp tử ở môi trường ngoài.



CHI TIẾT SẢN PHẨM:







Biotech-VET- Cầu trùng ở lợn, cách phòng và điều trị tốt nhất

Cầu trùng ở lợn là bệnh do ký sinh trùng Isospora suis, thuộc nhóm protozoa nội bào gây ra, bệnh xảy ra cho heo mọi lứa tuổi nhưng thường gặp nhất ở heo con theo mẹ, tập trung ở heo trong giai đoạn 8 -15 ngày tuổi. 


1. Triệu chứng quan trọng nhất của bệnh

Những đàn lợn trong chuồng đẻ có biểu hiện mức độ lâm sàng khác nhau và không phải tất cả lợn con trong cùng một lứa đẻ đều bị ảnh hưởng giống nhau.

Những triệu chứng quan trọng nhất của bệnh cầu trùng:

- Tiêu chảy sền sệt đến lỏng chuyển sang lỏng hơn khi nhiễm trùng nặng. Trên thân lợn dính đầy phân lỏng, luôn ẩm ướt và có mùi ôi.

- Giảm trọng lượng cơ thể khi cai sữa.

- Lợn còi cọc, mất nước, xù lông.

2. Nguyên nhân

Do một loại ký sinh trùng nhỏ có tên Isospora suis gây ra. Ký sinh trùng này sống và nhân lên trong tế bào vật chủ, chủ yếu là tế bào đường ruột. Đây là một động vật nguyên sinh, sinh sản rất nhanh với thời gian ủ bệnh khoảng 4 - 6 ngày. Trong một thời gian ngắn nó tự hoàn thành vòng đời và lợn bắt đầu thải ra những thế hệ nang noãn mới. Điều này cho thấy chúng đã phá hủy nhung mao và màng ruột trong quá trình ủ bệnh.

Để hoàn thành vòng đời ký sinh trùng này phải mất 5 - 10 ngày, do đó bệnh sẽ không biểu hiện triệu chứng ở lợn con trước 5 ngày tuổi.

3. Chuẩn đoán

Chúng ta có thể nghi ngờ bệnh do cầu trùng nếu lợn con theo mẹ có các triệu chứng tiêu chảy và điều trị kháng sinh ít có hiệu quả.

Sức khỏe đường ruột lợn con ảnh hưởng đến sự tăng trưởng, nhiễm khuẩn kế phát và hiệu quả sử dụng thức ăn say này.

Việc bảo vệ niêm mạc ruột khỏi cầu trùng ở lợn con theo mẹ rất quan trọng trong phòng ngừa chậm lớn và thiệt hại kinh tế do nhiễm khuẩn đường ruột trước và sau cai sữa.

4. Biện pháp phòng ngừa

Để kiểm soát bệnh hiệu quả phải sử dụng nhiều biện pháp đồng bộ như:

- Dọn sạch phân, cọ rửa sạch sẽ chuồng trại hằng ngày.

- Không cho lợn con tiếp xúc với phân và các chất độn chuồng để tránh nguy cơ tiếp xúc mầm bệnh.

- Sử dụng các thuốc ngừa cầu trùng cho lợn.

5. Điều trị

Sử dụng BTV- SULCOC hoặc BTV - SULFALIN, đặc trị bệnh cầu trùng một cách hiệu quả nhất

Trường hợp lợn tiêu chảy nặng, phân lẫn máu cần kết hợp thêm các thuốc trợ lực khác để lợn nhanh chóng hồi phục như: BTV - Vitamin K-C, B-Complex, Kháng thể E.COLI THT.

- Cung cấp đầy đủ nước và các chất điện giải như BTV - ĐIỆN GIẢI-GLUCO C

- Bổ sung men tiêu hóa vào trong thức ăn.

- Sát trùng chuồng trại hằng ngày bằng BTV-GLUTAR 10ml/2-4lit nước, liên tục trong 7 ngày để diệt kén hợp tử ở môi trường ngoài.



CHI TIẾT SẢN PHẨM:







Đọc thêm
Bệnh ký sinh trùng đường máu ở gà do Plasmodium gallinaceum gây ra. Bệnh này còn gọi là Bệnh sốt từng cơn, bệnh sốt rét gà (Avian malaria).B ệnh đã xảy ra ở nhiều nơi, gây thiệt hại lớn cho người chăn nuôi, đặc biệt là nhiều trang trại chăn nuôi gà đẻ.


1. TRIỆU CHỨNG

* Thể cấp tính:

- Bệnh ký sinh trùng đường máu thường gặp ở gà trên 35 ngày tuổi vào mùa mưa. Thời gian ủ bệnh từ 7-12 ngày.

- Gà thường kém ăn, bỏ ăn, ủ rủ sốt cao, mào tích nhợt nhạt, miệng chảy nhiều nước nhờn, tiêu chảy kéo dài, phân có màu lá cây xanh lét (đặc điểm này thường ít gặp ở các bệnh khác trên gà). Số lượng mắc bệnh trong đàn tăng đều. Đến ngày thứ 13-14, một số con chết thường vào ban đêm, có biểu hiện ộc máu ở miệng, mũi, mào, tích thâm đen, nằm thông cổ, về sau chết bất cứ lúc nào không biết, tỷ lệ chết lên đến 70% nếu không phát hiện sớm và có biện pháp can thiệp kịp thời.

* Thể mạn tính:

Ký sinh trùng thường gặp ở gà trưởng thành, gà mái đẻ. Sau quá trình mắc bệnh, từ thể cấp tính chuyển sang thể mạn tính.

- Thể mạn tính thường chậm lớn, thiếu máu, niêm mạc nhợt nhạt, mào thâm, phân loãng có màu xanh, gà đẻ giảm hoặc giảm đẻ, một số con có biểu hiện liệt chân.

- Tỉ lệ chết khoảng 5-20%

2. NGUYÊN NHÂN 

Do 29 loài Leucocybenzoon spp ở gia cầm và chim hoang, chim nuôi, chim cút, trong đó có 4 loài là Leucocbezoon Calleryi, Lsamthi và 2 loài nhiều nhất ở Việt Nam: L.Sabresi, L.simondi.

3. BỆNH TÍCH

- Da ngực, chân, mào, tích vùng da mỏng vùng không lông, có nhiều vết đốt của côn trùng tụ máu, các cơ quan nội tạng tụ huyết, lách sưng to gấp 2 bình thường, trên bề mặt có nhiều điểm xuất huyết hoặc hoại tử. Một số trường hợp thấy gan đen.

- Mổ khám máu loãng không đông

- Ruột chứa nhiều phân màu lá cây xanh lét

- Phổi ứ máu

4. PHÒNG BỆNH

Vệ sinh phòng bệnh sạch sẽ, phun thuốc sát trùng định kì, Vacxin phòng bệnh này chưa được áp dụng phổ biến và chi phí cao nên người ta ít dùng.

Dùng các thuốc có thành phần Sulfamonomethoxime (BTV – SULFAMOX) phòng bệnh định kì mỗi tháng từ 2-3 lần, mỗi lần dùng 2-3 ngày. Mỗi lần cách nhau 7-10 ngày. 

5. ĐIỀU TRỊ 

Rất nhiều trang trại, đại lý thuốc thú y đã lãng phí một lượng tiền rất lớn khi chẩn đoán sai, chẩn đoán nhầm hoặc khi đã chẩn đoán đúng nhưng dùng thuốc thì không đúng vì thuốc điều trị ký sinh trùng máu trên gà là một dạng thuốc điều trị ký sinh trùng. Có thể dùng BTV – SULFAMOX điều trị kết hợp với PARACE và BTV Bổ gan thận.….


CHI TIẾT SẢN PHẨM:




Biotech-VET- Phòng và điều trị Bệnh ký sinh trùng đường máu ở gà

Bệnh ký sinh trùng đường máu ở gà do Plasmodium gallinaceum gây ra. Bệnh này còn gọi là Bệnh sốt từng cơn, bệnh sốt rét gà (Avian malaria).B ệnh đã xảy ra ở nhiều nơi, gây thiệt hại lớn cho người chăn nuôi, đặc biệt là nhiều trang trại chăn nuôi gà đẻ.


1. TRIỆU CHỨNG

* Thể cấp tính:

- Bệnh ký sinh trùng đường máu thường gặp ở gà trên 35 ngày tuổi vào mùa mưa. Thời gian ủ bệnh từ 7-12 ngày.

- Gà thường kém ăn, bỏ ăn, ủ rủ sốt cao, mào tích nhợt nhạt, miệng chảy nhiều nước nhờn, tiêu chảy kéo dài, phân có màu lá cây xanh lét (đặc điểm này thường ít gặp ở các bệnh khác trên gà). Số lượng mắc bệnh trong đàn tăng đều. Đến ngày thứ 13-14, một số con chết thường vào ban đêm, có biểu hiện ộc máu ở miệng, mũi, mào, tích thâm đen, nằm thông cổ, về sau chết bất cứ lúc nào không biết, tỷ lệ chết lên đến 70% nếu không phát hiện sớm và có biện pháp can thiệp kịp thời.

* Thể mạn tính:

Ký sinh trùng thường gặp ở gà trưởng thành, gà mái đẻ. Sau quá trình mắc bệnh, từ thể cấp tính chuyển sang thể mạn tính.

- Thể mạn tính thường chậm lớn, thiếu máu, niêm mạc nhợt nhạt, mào thâm, phân loãng có màu xanh, gà đẻ giảm hoặc giảm đẻ, một số con có biểu hiện liệt chân.

- Tỉ lệ chết khoảng 5-20%

2. NGUYÊN NHÂN 

Do 29 loài Leucocybenzoon spp ở gia cầm và chim hoang, chim nuôi, chim cút, trong đó có 4 loài là Leucocbezoon Calleryi, Lsamthi và 2 loài nhiều nhất ở Việt Nam: L.Sabresi, L.simondi.

3. BỆNH TÍCH

- Da ngực, chân, mào, tích vùng da mỏng vùng không lông, có nhiều vết đốt của côn trùng tụ máu, các cơ quan nội tạng tụ huyết, lách sưng to gấp 2 bình thường, trên bề mặt có nhiều điểm xuất huyết hoặc hoại tử. Một số trường hợp thấy gan đen.

- Mổ khám máu loãng không đông

- Ruột chứa nhiều phân màu lá cây xanh lét

- Phổi ứ máu

4. PHÒNG BỆNH

Vệ sinh phòng bệnh sạch sẽ, phun thuốc sát trùng định kì, Vacxin phòng bệnh này chưa được áp dụng phổ biến và chi phí cao nên người ta ít dùng.

Dùng các thuốc có thành phần Sulfamonomethoxime (BTV – SULFAMOX) phòng bệnh định kì mỗi tháng từ 2-3 lần, mỗi lần dùng 2-3 ngày. Mỗi lần cách nhau 7-10 ngày. 

5. ĐIỀU TRỊ 

Rất nhiều trang trại, đại lý thuốc thú y đã lãng phí một lượng tiền rất lớn khi chẩn đoán sai, chẩn đoán nhầm hoặc khi đã chẩn đoán đúng nhưng dùng thuốc thì không đúng vì thuốc điều trị ký sinh trùng máu trên gà là một dạng thuốc điều trị ký sinh trùng. Có thể dùng BTV – SULFAMOX điều trị kết hợp với PARACE và BTV Bổ gan thận.….


CHI TIẾT SẢN PHẨM:




Đọc thêm
Phòng chống dịch bệnh ở đàn lợn trong tình hình nắng nóng, nước mặn hiện nay là rất cần thiêt, ảnh hưởng tới sự tăng trọng và sức đề kháng của lợn, gây thiệt hại kinh tế cho người chăn nuôi. Để phòng ngừa sự lây nhiễm của vi sinh vật đối với gia súc, người chăn nuôi cần lưu ý một số điểm sau:

Chuồng nuôi

Với thời tiết nắng nóng trên 35°c, chuồng nuôi đảm bảo thoáng mát, không khí lưu thông tốt. Chuồng hướng Đông – Nam, nền chuồng khô ráo, sạch sẽ, dùng tấm bạt để che nắng xung quanh chuồng. Định kỳ sát trùng chuồng bằng các loại thuốc sát trùng như BTV Glutar, Cloramin- T, BTV - Iodine,...

Hằng ngày có thể phun nước lên mái chuồng để hạ bớt nhiệt, nếu có điều kiện trong chuồng lắp đặt quạt, hệ thống thông gió hay tưới phun sương, quanh chuồng nuôi trồng cây xanh tạo bóng mát.

Chất thải phải được thu gom và áp dụng phương pháp xử lý bằng hầm biogas, đồng thời sử dụng được khí đốt sạch, cung cấp phân bón sạch...


Chăm sóc, nuôi dưỡng

Thức ăn được mua từ các hãng, cơ sở có uy tín, đảm bảo về thành phần, nhu cầu dinh dưỡng, số lượng và chất lượng cho từng giai đoạn phát triển của gia súc.

Cung cấp đủ nước sạch và mát. Đồng thời ở thời điểm nước mặn ở một số vùng cần trữ lượng nước để tránh rối loạn bệnh đường ruột cho gia súc.

Để giải nhiệt, cung cấp chất điện giải, B-Complex, vitamin c vào thức ăn hay nước uống cho gia súc (BTV- Điện Giải Gluco C, Gluco K-C thảo dược kết hợp B- Complex Men). Ngoài ra người nuôi có thể dùng đậu xanh nấu nhừ, có tác dụng giải nhiệt tốt.

Phòng bệnh

Định kỳ tiêm phòng và tẩy giun sán cho đàn lợn.

Để tăng khả năng đề kháng cho đàn lợn chống lại vi sinh vật xâm nhập gây bệnh, cần chủ động tiêm các loại vắc-xin như: Dịch tả, tụ huyết trùng, phó thương hàn E. Coli và nên chú ý một số bệnh như: Bệnh cảm nóng, tiêu chảy, cầu trùng...(Có thể dùng kháng sinh BTV DOTY kết hợp Kháng thể E.Coli THT)


CHI TIẾT SẢN PHẨM: 




Biotech-VET- Phòng chống dịch bệnh ở lợn trong mùa hè hiệu quả nhất

Phòng chống dịch bệnh ở đàn lợn trong tình hình nắng nóng, nước mặn hiện nay là rất cần thiêt, ảnh hưởng tới sự tăng trọng và sức đề kháng của lợn, gây thiệt hại kinh tế cho người chăn nuôi. Để phòng ngừa sự lây nhiễm của vi sinh vật đối với gia súc, người chăn nuôi cần lưu ý một số điểm sau:

Chuồng nuôi

Với thời tiết nắng nóng trên 35°c, chuồng nuôi đảm bảo thoáng mát, không khí lưu thông tốt. Chuồng hướng Đông – Nam, nền chuồng khô ráo, sạch sẽ, dùng tấm bạt để che nắng xung quanh chuồng. Định kỳ sát trùng chuồng bằng các loại thuốc sát trùng như BTV Glutar, Cloramin- T, BTV - Iodine,...

Hằng ngày có thể phun nước lên mái chuồng để hạ bớt nhiệt, nếu có điều kiện trong chuồng lắp đặt quạt, hệ thống thông gió hay tưới phun sương, quanh chuồng nuôi trồng cây xanh tạo bóng mát.

Chất thải phải được thu gom và áp dụng phương pháp xử lý bằng hầm biogas, đồng thời sử dụng được khí đốt sạch, cung cấp phân bón sạch...


Chăm sóc, nuôi dưỡng

Thức ăn được mua từ các hãng, cơ sở có uy tín, đảm bảo về thành phần, nhu cầu dinh dưỡng, số lượng và chất lượng cho từng giai đoạn phát triển của gia súc.

Cung cấp đủ nước sạch và mát. Đồng thời ở thời điểm nước mặn ở một số vùng cần trữ lượng nước để tránh rối loạn bệnh đường ruột cho gia súc.

Để giải nhiệt, cung cấp chất điện giải, B-Complex, vitamin c vào thức ăn hay nước uống cho gia súc (BTV- Điện Giải Gluco C, Gluco K-C thảo dược kết hợp B- Complex Men). Ngoài ra người nuôi có thể dùng đậu xanh nấu nhừ, có tác dụng giải nhiệt tốt.

Phòng bệnh

Định kỳ tiêm phòng và tẩy giun sán cho đàn lợn.

Để tăng khả năng đề kháng cho đàn lợn chống lại vi sinh vật xâm nhập gây bệnh, cần chủ động tiêm các loại vắc-xin như: Dịch tả, tụ huyết trùng, phó thương hàn E. Coli và nên chú ý một số bệnh như: Bệnh cảm nóng, tiêu chảy, cầu trùng...(Có thể dùng kháng sinh BTV DOTY kết hợp Kháng thể E.Coli THT)


CHI TIẾT SẢN PHẨM: 




Đọc thêm
Kinh nghiệm của thế giới và Việt Nam cho thấy nhiều ca lợn mắc bệnh dịch tả lợn Châu Phi từ đường sử dụng cơm thừa, canh cặn mà không qua nấu kỹ hay không tiệt trùng phương tiện, dụng cụ vận chuyển và cho ăn, uống luôn.

Chăn nuôi giữa thời dịch tả lợn Châu Phi

Hà Nội là địa phương có tổng đàn vật nuôi lớn đứng tốp đầu cả nước; trong đó đàn lợn có gần 2 triệu con. Trên địa bàn thành phố có 283 công ty, xí nghiệp, HTX, trung tâm, doanh nghiệp (như Cty CP, Dabaco, Việt Hưng, JaFa, HTX Chăn nuôi huyện Đan Phượng, HTX Hòa Mỹ, Cty Giống gia súc Hà Nội...) với tổng đàn lợn chiếm khoảng 22% tổng đàn lợn toàn thành phố. Chăn nuôi của thành phố đang chuyển dịch từ chăn nuôi quy mô nhỏ, phân tán sang chăn nuôi trang trại, tập trung và hình thành chuỗi giá trị chăn nuôi.

Theo Chi cục Chăn nuôi và Thú y Hà Nội, tính đến cuối tháng 3, dịch tả lợn Châu Phi đã xảy ra tại 12 quận, huyện trên địa bàn, phải tiêu hủy 2.218 con. Hiện chưa có vacxin và thuốc điều trị được dịch tả lợn châu Phi. Vì vậy đối với người chăn nuôi thì giải pháp chăn nuôi an toàn sinh học, thực hiện các biện phòng bệnh tổng hợp, đồng bộ, là giải pháp hữu hiệu duy nhất hiện nay đối với phòng, chống bệnh.

Thức ăn sử dụng cho chăn nuôi lợn phải đảm bảo tiêu chuẩn chất lượng phù hợp với tiêu chuẩn và khẩu phần ăn của các loại lợn. Không sử dụng thức ăn thừa của đàn lợn đã xuất chuồng, thức ăn của đàn lợn đã bị dịch cho đàn lợn mới. Bao bì, dụng cụ đựng thức ăn của đàn lợn bị dịch bệnh phải được tiêu độc, khử trùng. Nước dùng cho lợn uống phải an toàn đảm bảo tiêu chuẩn chất lượng. 


Vệ sinh thú y

Vệ sinh thú y được coi như lớp áo giáp bảo vệ đàn lợn với dịch bệnh. Lời khuyên của các chuyên gia: Chất sát trùng tại các hố sát trùng ở cổng ra vào cơ sở chăn nuôi, khu chăn nuôi và chuồng nuôi phải bổ sung hoặc thay hàng ngày. Tất cả các phương tiện vận chuyển khi vào cơ sở chăn nuôi, khu chăn nuôi phải đi qua hố khử trùng và phải được phun thuốc sát trùng. Mọi người trước khi vào khu chăn nuôi phải thay quần áo, giầy dép và mặc quần áo bảo hộ của cơ sở; trước khi vào các chuồng nuôi phải nhúng ủng hoặc giầy dép vào hố khử trùng.

Định kỳ phát quang bụi rậm, khơi thông và vệ sinh cống rãnh trong khu chăn nuôi ít nhất 1 lần/tháng. Không vận chuyển lợn, thức ăn, chất thải hay vật dụng khác chung một phương tiện; phải thực hiện sát trùng phương tiện vận chuyển trước và sau khi vận chuyển.

Định kỳ phun thuốc sát trùng xung quanh khu chăn nuôi, các chuồng nuôi ít nhất 1 lần/2 tuần; phun thuốc sát trùng lối đi trong khu chăn nuôi và các dãy chuồng nuôi ít nhất 1 lần/tuần khi không có dịch bệnh, và ít nhất 1 lần/ngày khi có dịch bệnh; phun thuốc sát trùng trên lợn 1 lần/tuần khi có dịch bệnh bằng các dung dịch sát trùng thích hợp theo hướng dẫn của nhà sản xuất.

Áp dụng phương thức chăn nuôi “cùng vào cùng ra” theo thứ tự ưu tiên cả khu, từng dãy, từng chuồng, từng ô. Sau mỗi đợt nuôi phải làm vệ sinh, tiêu độc khử trùng chuồng, dụng cụ chăn nuôi và để trống chuồng ít nhất 7 ngày trước khi đưa lợn mới đến. 

Không tổ chức đi thăm hỏi khi dịch bệnh xảy ra

Nghiêm cấm vận chuyển lợn và các sản phẩm lợn ra vào vùng dịch, vùng bị dịch uy hiếp. Cơ sở chăn nuôi trong vùng dịch, vùng bị dịch uy hiếp đã được cấp “Giấy chứng nhận an toàn dịch bệnh động vật” đối với các bệnh khác, có thể được phép vận chuyển ra ngoài dưới sự giám sát của cơ quan có thẩm quyền của địa phương sau khi đã lấy mẫu xét nghiệm âm tính với bệnh dịch tả lợn Châu Phi.

Định kỳ tổ chức vệ sinh, khử trùng, tiêu độc tại các khu vực chăn nuôi, các chợ, điểm buôn bán, giết mổ lợn và các sản phẩm của lợn bằng vôi bột hoặc hóa chất; hằng ngày thực hiện vệ sinh, khử trùng tiêu độc sau mỗi buổi họp chợ, mỗi ca giết mổ lợn; vệ sinh, khử trùng, tiêu độc đối với người, phương tiện ra vào khu vực chăn nuôi theo đúng quy trình kỹ thuật chăn nuôi, vệ sinh phòng dịch. 

Biotech-VET- Dịch tả lợn Châu Phi - Cẩn thận với cơm thừa canh cặn

Kinh nghiệm của thế giới và Việt Nam cho thấy nhiều ca lợn mắc bệnh dịch tả lợn Châu Phi từ đường sử dụng cơm thừa, canh cặn mà không qua nấu kỹ hay không tiệt trùng phương tiện, dụng cụ vận chuyển và cho ăn, uống luôn.

Chăn nuôi giữa thời dịch tả lợn Châu Phi

Hà Nội là địa phương có tổng đàn vật nuôi lớn đứng tốp đầu cả nước; trong đó đàn lợn có gần 2 triệu con. Trên địa bàn thành phố có 283 công ty, xí nghiệp, HTX, trung tâm, doanh nghiệp (như Cty CP, Dabaco, Việt Hưng, JaFa, HTX Chăn nuôi huyện Đan Phượng, HTX Hòa Mỹ, Cty Giống gia súc Hà Nội...) với tổng đàn lợn chiếm khoảng 22% tổng đàn lợn toàn thành phố. Chăn nuôi của thành phố đang chuyển dịch từ chăn nuôi quy mô nhỏ, phân tán sang chăn nuôi trang trại, tập trung và hình thành chuỗi giá trị chăn nuôi.

Theo Chi cục Chăn nuôi và Thú y Hà Nội, tính đến cuối tháng 3, dịch tả lợn Châu Phi đã xảy ra tại 12 quận, huyện trên địa bàn, phải tiêu hủy 2.218 con. Hiện chưa có vacxin và thuốc điều trị được dịch tả lợn châu Phi. Vì vậy đối với người chăn nuôi thì giải pháp chăn nuôi an toàn sinh học, thực hiện các biện phòng bệnh tổng hợp, đồng bộ, là giải pháp hữu hiệu duy nhất hiện nay đối với phòng, chống bệnh.

Thức ăn sử dụng cho chăn nuôi lợn phải đảm bảo tiêu chuẩn chất lượng phù hợp với tiêu chuẩn và khẩu phần ăn của các loại lợn. Không sử dụng thức ăn thừa của đàn lợn đã xuất chuồng, thức ăn của đàn lợn đã bị dịch cho đàn lợn mới. Bao bì, dụng cụ đựng thức ăn của đàn lợn bị dịch bệnh phải được tiêu độc, khử trùng. Nước dùng cho lợn uống phải an toàn đảm bảo tiêu chuẩn chất lượng. 


Vệ sinh thú y

Vệ sinh thú y được coi như lớp áo giáp bảo vệ đàn lợn với dịch bệnh. Lời khuyên của các chuyên gia: Chất sát trùng tại các hố sát trùng ở cổng ra vào cơ sở chăn nuôi, khu chăn nuôi và chuồng nuôi phải bổ sung hoặc thay hàng ngày. Tất cả các phương tiện vận chuyển khi vào cơ sở chăn nuôi, khu chăn nuôi phải đi qua hố khử trùng và phải được phun thuốc sát trùng. Mọi người trước khi vào khu chăn nuôi phải thay quần áo, giầy dép và mặc quần áo bảo hộ của cơ sở; trước khi vào các chuồng nuôi phải nhúng ủng hoặc giầy dép vào hố khử trùng.

Định kỳ phát quang bụi rậm, khơi thông và vệ sinh cống rãnh trong khu chăn nuôi ít nhất 1 lần/tháng. Không vận chuyển lợn, thức ăn, chất thải hay vật dụng khác chung một phương tiện; phải thực hiện sát trùng phương tiện vận chuyển trước và sau khi vận chuyển.

Định kỳ phun thuốc sát trùng xung quanh khu chăn nuôi, các chuồng nuôi ít nhất 1 lần/2 tuần; phun thuốc sát trùng lối đi trong khu chăn nuôi và các dãy chuồng nuôi ít nhất 1 lần/tuần khi không có dịch bệnh, và ít nhất 1 lần/ngày khi có dịch bệnh; phun thuốc sát trùng trên lợn 1 lần/tuần khi có dịch bệnh bằng các dung dịch sát trùng thích hợp theo hướng dẫn của nhà sản xuất.

Áp dụng phương thức chăn nuôi “cùng vào cùng ra” theo thứ tự ưu tiên cả khu, từng dãy, từng chuồng, từng ô. Sau mỗi đợt nuôi phải làm vệ sinh, tiêu độc khử trùng chuồng, dụng cụ chăn nuôi và để trống chuồng ít nhất 7 ngày trước khi đưa lợn mới đến. 

Không tổ chức đi thăm hỏi khi dịch bệnh xảy ra

Nghiêm cấm vận chuyển lợn và các sản phẩm lợn ra vào vùng dịch, vùng bị dịch uy hiếp. Cơ sở chăn nuôi trong vùng dịch, vùng bị dịch uy hiếp đã được cấp “Giấy chứng nhận an toàn dịch bệnh động vật” đối với các bệnh khác, có thể được phép vận chuyển ra ngoài dưới sự giám sát của cơ quan có thẩm quyền của địa phương sau khi đã lấy mẫu xét nghiệm âm tính với bệnh dịch tả lợn Châu Phi.

Định kỳ tổ chức vệ sinh, khử trùng, tiêu độc tại các khu vực chăn nuôi, các chợ, điểm buôn bán, giết mổ lợn và các sản phẩm của lợn bằng vôi bột hoặc hóa chất; hằng ngày thực hiện vệ sinh, khử trùng tiêu độc sau mỗi buổi họp chợ, mỗi ca giết mổ lợn; vệ sinh, khử trùng, tiêu độc đối với người, phương tiện ra vào khu vực chăn nuôi theo đúng quy trình kỹ thuật chăn nuôi, vệ sinh phòng dịch. 

Đọc thêm
Bệnh ký sinh trùng đường máu ở gà do Plasmodium gallinaceum gây ra. Bệnh này còn gọi là Bệnh sốt từng cơn, bệnh sốt rét gà (Avian malaria). Đây là bệnh mới xảy ra ở các cơ sở chăn nuôi gà và chưa được nghiên cứu kỹ ở nước ta.

1. NGUYÊN NHÂN 

Do 29 loài Leucocybenzoon spp ở gia cầm và chim hoang, chim nuôi, chim cút, trong đó có 4 loài là Leucocbezoon Calleryi, Lsamthi và 2 loài nhiều nhất ở Việt Nam: L.Sabresi, L.simondi

2. TRIỆU CHỨNG

* Thể cấp tính:

- Bệnh thường gặp ở gà trên 35 ngày tuổi vào mùa mưa. Thời gian ủ bệnh từ 7-12 ngày.

- Gà thường kém ăn, bỏ ăn, ủ rủ sốt cao, mào tích nhợt nhạt, miệng chảy nhiều nước nhờn, tiêu chảy kéo dài, phân có màu lá cây xanh lét (đặc điểm này thường ít gặp ở các bệnh khác trên gà). Số lượng mắc bệnh trong đàn tăng đều. Đến ngày thứ 13-14, một số con chết thường vào ban đêm, có biểu hiện ộc máu ở miệng, mũi, mào, tích thâm đen, nằm thông cổ, về sau chết bất cứ lúc nào không biết, tỷ lệ chết lên đến 70% 


* Thể mạn tính:

- Bệnh ký sinh trùng đường máu thường gặp ở gà trưởng thành, gà mái đẻ. Sau quá trình mắc bệnh, từ thể cấp tính chuyển sang thể mạn tính.

- Thể mạn tính thường chậm lớn, thiếu máu, niêm mạc nhợt nhạt, mào thâm, phân loãng có màu xanh, gà đẻ giảm hoặc giảm đẻ, một số con có biểu hiện liệt chân. Tỉ lệ chết khoảng 5-20%

3. BỆNH TÍCH

- Da ngực, chân, mào, tích vùng da mỏng vùng không lông, có nhiều vết đốt của côn trùng tụ máu, các cơ quan nội tạng tụ huyết, lách sưng to gấp 2 bình thường, trên bề mặt có nhiều điểm xuất huyết hoặc hoại tử. Một số trường hợp thấy gan đen.

- Mổ khám máu loãng không đông

- Ruột chứa nhiều phân màu lá cây xanh lét

- Phổi ứ máu

4. PHÒNG BỆNH

Vệ sinh phòng bệnh sạch sẽ, phun thuốc sát trùng định kì, Vacxin phòng bệnh này chưa được áp dụng phổ biến và chi phí cao nên người ta ít dùng.

Dùng các thuốc có thành phần Sulfadimethoxine, Toltrazuril, Sulfaquinoxaline phòng bệnh định kì mỗi tháng từ 2-3 lần, mỗi lần dùng 2-3 ngày. Mỗi lần cách nhau 7-10 ngày. 

5. ĐIỀU TRỊ 

Rất nhiều trang trại, đại lý thuốc thú y đã lãng phí một lượng tiền rất lớn khi chẩn đoán sai, chẩn đoán nhầm hoặc khi đã chẩn đoán đúng nhưng dùng thuốc thì không đúng vì thuốc điều trị ký sinh trùng máu trên gà là một dạng thuốc điều trị ký sinh trùng. Dùng một trong các thành phần : Sulfadimethoxine, Monomethoxine, Sulfaquinoxaline hoặc Clopidol

Biotech-VET- Bệnh ký sinh trùng đường máu ở gà

Bệnh ký sinh trùng đường máu ở gà do Plasmodium gallinaceum gây ra. Bệnh này còn gọi là Bệnh sốt từng cơn, bệnh sốt rét gà (Avian malaria). Đây là bệnh mới xảy ra ở các cơ sở chăn nuôi gà và chưa được nghiên cứu kỹ ở nước ta.

1. NGUYÊN NHÂN 

Do 29 loài Leucocybenzoon spp ở gia cầm và chim hoang, chim nuôi, chim cút, trong đó có 4 loài là Leucocbezoon Calleryi, Lsamthi và 2 loài nhiều nhất ở Việt Nam: L.Sabresi, L.simondi

2. TRIỆU CHỨNG

* Thể cấp tính:

- Bệnh thường gặp ở gà trên 35 ngày tuổi vào mùa mưa. Thời gian ủ bệnh từ 7-12 ngày.

- Gà thường kém ăn, bỏ ăn, ủ rủ sốt cao, mào tích nhợt nhạt, miệng chảy nhiều nước nhờn, tiêu chảy kéo dài, phân có màu lá cây xanh lét (đặc điểm này thường ít gặp ở các bệnh khác trên gà). Số lượng mắc bệnh trong đàn tăng đều. Đến ngày thứ 13-14, một số con chết thường vào ban đêm, có biểu hiện ộc máu ở miệng, mũi, mào, tích thâm đen, nằm thông cổ, về sau chết bất cứ lúc nào không biết, tỷ lệ chết lên đến 70% 


* Thể mạn tính:

- Bệnh ký sinh trùng đường máu thường gặp ở gà trưởng thành, gà mái đẻ. Sau quá trình mắc bệnh, từ thể cấp tính chuyển sang thể mạn tính.

- Thể mạn tính thường chậm lớn, thiếu máu, niêm mạc nhợt nhạt, mào thâm, phân loãng có màu xanh, gà đẻ giảm hoặc giảm đẻ, một số con có biểu hiện liệt chân. Tỉ lệ chết khoảng 5-20%

3. BỆNH TÍCH

- Da ngực, chân, mào, tích vùng da mỏng vùng không lông, có nhiều vết đốt của côn trùng tụ máu, các cơ quan nội tạng tụ huyết, lách sưng to gấp 2 bình thường, trên bề mặt có nhiều điểm xuất huyết hoặc hoại tử. Một số trường hợp thấy gan đen.

- Mổ khám máu loãng không đông

- Ruột chứa nhiều phân màu lá cây xanh lét

- Phổi ứ máu

4. PHÒNG BỆNH

Vệ sinh phòng bệnh sạch sẽ, phun thuốc sát trùng định kì, Vacxin phòng bệnh này chưa được áp dụng phổ biến và chi phí cao nên người ta ít dùng.

Dùng các thuốc có thành phần Sulfadimethoxine, Toltrazuril, Sulfaquinoxaline phòng bệnh định kì mỗi tháng từ 2-3 lần, mỗi lần dùng 2-3 ngày. Mỗi lần cách nhau 7-10 ngày. 

5. ĐIỀU TRỊ 

Rất nhiều trang trại, đại lý thuốc thú y đã lãng phí một lượng tiền rất lớn khi chẩn đoán sai, chẩn đoán nhầm hoặc khi đã chẩn đoán đúng nhưng dùng thuốc thì không đúng vì thuốc điều trị ký sinh trùng máu trên gà là một dạng thuốc điều trị ký sinh trùng. Dùng một trong các thành phần : Sulfadimethoxine, Monomethoxine, Sulfaquinoxaline hoặc Clopidol

Đọc thêm
1. TUỔI LÊN GIỐNG VÀ PHỐI GIỐNG

- Lợn cỏ (ỉ, Móng Cái) lên giống lúc 3-4 tháng tuổi.

- Lợn lai (Ba Xuyên, Thuộc Nhiêu) lên giống lúc 6-7 tháng tuổi.

- Lợn giống thuần chủng (Yorkshire, Duroc) lên giống lúc 7-7,5 tháng tuổi.

Tuy là tuổi lên giống lần đầu như trên, nhưng khi phối giống muốn có nhiều con, ta nên bỏ chu kỳ lên giống đầu (nước đầu) mà phối giống (phủ nọc) vào chu kỳ 2. Vì lần lên giống đầu trứng rụng rất ít, nếu cho phối giống sẽ được ít con.

2. TRỌNG LƯỢNG PHỐI GIỐNG

- Lợn cỏ (ỉ, Móng Cái): 45-50 kg.

- Lợn lai (Ba Xuyên, Thuộc Nhiêu): 70-80kg.

- Lợn giống (Yorkshire, Landrace, Duroc): 90-100 kg.

3. THỜI ĐIỂM PHỐI GIỐNG TỐT NHẤT

Muốn cho nái đẻ nhiều con, ngoài chọn tuổi và trọng lượng lên giống, ta phải xác định thời điểm phối giống thích hợp nhất. Một chu kỳ lên giống của lợn là 21 ngày. Khi lên giống, lợn có biểu hiện: ăn ít, bỏ ăn, buồn bực, kêu rên suốt ngày, phá chuồng, thường nhảy lên lưng những con khác; âm hộ sưng lớn hơn bình thường và có màu đỏ mạng. Nếu dùng hai tay ấn nhẹ lên lưng lợn nái thì nó sẽ đứng yên, hai tai vểnh lên (đối với nái nuôi con thường lên giống sau khi tách con hoặc tách đàn từ 1-7 ngày).


Thời gian động dục của lợn nái biến động từ 3-5 ngày. Thời điểm phối giống thích hợp cho các loại lợn nái như sau:

- Đối với lợn nội: cuối ngày thứ 2 đầu ngày thứ 3.

- Đối với lợn ngoại và ngoại lai: cuối ngày thứ 3 sang đầu ngày thứ 4.

4. KỸ THUẬT PHỐI TRỘN THỨC ĂN CHĂN NUÔI LỢN NÁI

Ở vùng đồng bằng Nam Bộ, nguyên liệu thức ăn chăn nuôi chủ yếu là tấm, cám, khô dừa. Có thể dùng cho lợn nái mang thai và lợn nái nuôi con ăn, nhưng phải phối hợp khẩu phần khác nhau cho lợn nái mang thai và nuôi con. Vì ở giai đoạn mang thai từ 1-90 ngày nhu cầu dinh dưỡng cần ít hơn giai đoạn 90-114 ngày. Còn ở giai đoạn nuôi con thì nhu cầu dinh dưỡng cần cao hơn để tạo sữa.

Kỹ thuật cho lợn nái ăn khác với kỹ thuật nuôi heo thịt như không nên cho lợn nái mang thai ăn liên tục như lợn nái nuôi con, mà phải ăn hạn chế một ngày 2-3kg thức ăn hỗn hợp trên và chia làm 2 lần, sáng ăn 1kg và chiều ăn 1kg. Mục đích để lợn nái không béo quá, nhưng vẫn đủ chất dinh dưỡng nuôi bào thai.

5. DẤU HIỆU NÁI SẮP SINH

Nái sắp sanh thường biểu hiện ăn ít hay không ăn, có tiếng kêu rền của nái sắp đẻ. Nái thường ủi phá nền chuồng (hiện tượng quầng ổ). Để nái ít hao tốn năng lượng do việc quầng ổ, ta nên rải rơm, cỏ khô hoặc bao bố sạch vào chuồng cho nái nằm.

Nái sắp sinh có thể tăng thân nhiệt, tăng nhịp thở, đi lại không yên trong chuồng, đi phân, đi tiểu nhiều lần (gọi là đi mót) làm cho ô chuồng dơ bẩn. Do đó cần vệ sinh và giữ chuồng luôn khô ráo để tránh nhiễm trùng cho heo con và bộ phận sinh dục heo nái sau khi đẻ.

6. CHĂM SÓC NÁI ĐẺ VÀ HEO CON SƠ SINH

Nơi nái đẻ phải thoáng mát, yên tĩnh. Nhiệt độ cao, hầm nóng, không thông thoáng làm cho nái thở mệt, lười rặn, đẻ chậm gây ngộp thai. Sự ồn ào, lạ người chăm sóc, sự hiện diện của thú lạ như chó mèo có thể làm nái hoảng sợ hoặc hung dữ, ngưng đẻ hoặc đẻ chậm, số heo con chết lúc đẻ tăng.

Sau khi sinh áp dụng kỹ thuật chăn nuôi như lợn mẹ bị mất sức rất nhiều do mất nước, mất máu và ăn kém. Đề phòng các trường hợp viêm tử cung, ngay sau khi lợn nái đẻ xong ta nên tiêm cho nó một liều thuốc kháng sinh. Những thuốc kháng sinh có thể dùng tiêm cho lợn nái mà không ảnh hưởng làm giảm sữa như: Terramycin 10cc/1 ngày, liên tục trong 3 ngày. Tylan 50 hoặc Suanavil 5 tiêm 10cc/1 con/1 ngày, liên tục trong 3 ngày.

Trong thời gian tiêm kháng sinh cho lợn nái, ta nên tiêm kèm thuốc bỏ (vitamin C, B1, B complex, B12, Gluconat, Stricmin) để trợ sức, kích thích lợn ăn khỏe để có sữa cho lợn con.

Biotech-VET- Kỹ thuật nuôi lợn nái sinh sản tốt nhất

1. TUỔI LÊN GIỐNG VÀ PHỐI GIỐNG

- Lợn cỏ (ỉ, Móng Cái) lên giống lúc 3-4 tháng tuổi.

- Lợn lai (Ba Xuyên, Thuộc Nhiêu) lên giống lúc 6-7 tháng tuổi.

- Lợn giống thuần chủng (Yorkshire, Duroc) lên giống lúc 7-7,5 tháng tuổi.

Tuy là tuổi lên giống lần đầu như trên, nhưng khi phối giống muốn có nhiều con, ta nên bỏ chu kỳ lên giống đầu (nước đầu) mà phối giống (phủ nọc) vào chu kỳ 2. Vì lần lên giống đầu trứng rụng rất ít, nếu cho phối giống sẽ được ít con.

2. TRỌNG LƯỢNG PHỐI GIỐNG

- Lợn cỏ (ỉ, Móng Cái): 45-50 kg.

- Lợn lai (Ba Xuyên, Thuộc Nhiêu): 70-80kg.

- Lợn giống (Yorkshire, Landrace, Duroc): 90-100 kg.

3. THỜI ĐIỂM PHỐI GIỐNG TỐT NHẤT

Muốn cho nái đẻ nhiều con, ngoài chọn tuổi và trọng lượng lên giống, ta phải xác định thời điểm phối giống thích hợp nhất. Một chu kỳ lên giống của lợn là 21 ngày. Khi lên giống, lợn có biểu hiện: ăn ít, bỏ ăn, buồn bực, kêu rên suốt ngày, phá chuồng, thường nhảy lên lưng những con khác; âm hộ sưng lớn hơn bình thường và có màu đỏ mạng. Nếu dùng hai tay ấn nhẹ lên lưng lợn nái thì nó sẽ đứng yên, hai tai vểnh lên (đối với nái nuôi con thường lên giống sau khi tách con hoặc tách đàn từ 1-7 ngày).


Thời gian động dục của lợn nái biến động từ 3-5 ngày. Thời điểm phối giống thích hợp cho các loại lợn nái như sau:

- Đối với lợn nội: cuối ngày thứ 2 đầu ngày thứ 3.

- Đối với lợn ngoại và ngoại lai: cuối ngày thứ 3 sang đầu ngày thứ 4.

4. KỸ THUẬT PHỐI TRỘN THỨC ĂN CHĂN NUÔI LỢN NÁI

Ở vùng đồng bằng Nam Bộ, nguyên liệu thức ăn chăn nuôi chủ yếu là tấm, cám, khô dừa. Có thể dùng cho lợn nái mang thai và lợn nái nuôi con ăn, nhưng phải phối hợp khẩu phần khác nhau cho lợn nái mang thai và nuôi con. Vì ở giai đoạn mang thai từ 1-90 ngày nhu cầu dinh dưỡng cần ít hơn giai đoạn 90-114 ngày. Còn ở giai đoạn nuôi con thì nhu cầu dinh dưỡng cần cao hơn để tạo sữa.

Kỹ thuật cho lợn nái ăn khác với kỹ thuật nuôi heo thịt như không nên cho lợn nái mang thai ăn liên tục như lợn nái nuôi con, mà phải ăn hạn chế một ngày 2-3kg thức ăn hỗn hợp trên và chia làm 2 lần, sáng ăn 1kg và chiều ăn 1kg. Mục đích để lợn nái không béo quá, nhưng vẫn đủ chất dinh dưỡng nuôi bào thai.

5. DẤU HIỆU NÁI SẮP SINH

Nái sắp sanh thường biểu hiện ăn ít hay không ăn, có tiếng kêu rền của nái sắp đẻ. Nái thường ủi phá nền chuồng (hiện tượng quầng ổ). Để nái ít hao tốn năng lượng do việc quầng ổ, ta nên rải rơm, cỏ khô hoặc bao bố sạch vào chuồng cho nái nằm.

Nái sắp sinh có thể tăng thân nhiệt, tăng nhịp thở, đi lại không yên trong chuồng, đi phân, đi tiểu nhiều lần (gọi là đi mót) làm cho ô chuồng dơ bẩn. Do đó cần vệ sinh và giữ chuồng luôn khô ráo để tránh nhiễm trùng cho heo con và bộ phận sinh dục heo nái sau khi đẻ.

6. CHĂM SÓC NÁI ĐẺ VÀ HEO CON SƠ SINH

Nơi nái đẻ phải thoáng mát, yên tĩnh. Nhiệt độ cao, hầm nóng, không thông thoáng làm cho nái thở mệt, lười rặn, đẻ chậm gây ngộp thai. Sự ồn ào, lạ người chăm sóc, sự hiện diện của thú lạ như chó mèo có thể làm nái hoảng sợ hoặc hung dữ, ngưng đẻ hoặc đẻ chậm, số heo con chết lúc đẻ tăng.

Sau khi sinh áp dụng kỹ thuật chăn nuôi như lợn mẹ bị mất sức rất nhiều do mất nước, mất máu và ăn kém. Đề phòng các trường hợp viêm tử cung, ngay sau khi lợn nái đẻ xong ta nên tiêm cho nó một liều thuốc kháng sinh. Những thuốc kháng sinh có thể dùng tiêm cho lợn nái mà không ảnh hưởng làm giảm sữa như: Terramycin 10cc/1 ngày, liên tục trong 3 ngày. Tylan 50 hoặc Suanavil 5 tiêm 10cc/1 con/1 ngày, liên tục trong 3 ngày.

Trong thời gian tiêm kháng sinh cho lợn nái, ta nên tiêm kèm thuốc bỏ (vitamin C, B1, B complex, B12, Gluconat, Stricmin) để trợ sức, kích thích lợn ăn khỏe để có sữa cho lợn con.

Đọc thêm