1. Bệnh do vi khuẩn Listeria trên heo là bệnh gì?
Listeriosis là một bệnh nhiễm khuẩn ảnh hưởng đến nhiều loài động vật, bao gồm cả heo, người, chim và các động vật nhai lại. Bệnh do vi khuẩn tên là Listeria monocytogenes gây ra và được tìm thấy ở rất nhiều nơi trên toàn thế giới, đặc biệt là ở những vùng có khí hậu ôn đới và khí hậu lạnh.
Vi khuẩn thường được tìm thấy trong ruột của heo và các loài cảm nhiễm khác. Ngoài ra, nó còn xuất hiện nhiều trong pho mát và thức ăn ủ chua. Heo sẽ bị nhiễm trùng nếu tiếp xúc với mầm bệnh, dù vậy bệnh rất ít xảy ra trên heo.

Vi khuẩn thường gây viêm não và viêm màng não mãn tính trên động vật nhai lại trưởng thành. Hơn nữa, nó cũng gây ra rất nhiều những thiệt hại đáng kể trên người.
2. Bệnh do vi khuẩn Listeria trên heo nguy hiểm như thế nào?
Khi heo khỏe hít phải, ăn phải vi khuẩn, vi khuẩn xâm nhập đến các mô, cơ quan đích và gây nên các triệu chứng bệnh tương ứng như:
- Xâm nhập vào máu gây nhiễm trùng huyết. nhiễm trùng tiềm ẩn (ít biểu hiện triệu chứng ra ngoài).
- Xâm nhập vào bào thai, vào tử cung gây thai chết lưu, hỏng thai, gây chết heo con sơ sinh, sinh non…
- Xâm nhập vào thành ruột gây rối loạn tiêu hóa, hấp thu…
- Xâm nhập vào màng não và các tế bào não gây triệu chứng thần kinh, viêm màng não, viêm não.
- Xâm nhập đến các cơ quan nội tạng như gan gây hoại tử gan.
Mặc dù bệnh do vi khuẩn Listeria trên heo ít khi phát triển nặng trên heo nhưng với mật độ mầm bệnh dày đặc và đa dạng như hiện nay, nếu chúng ta không làm tốt công tác vệ sinh tiêu độc khử trùng thì khi được các mầm bệnh khác “mở đường”, vi khuẩn Listeria hoàn toàn có thể xâm nhập và làm cho tình trạng càng nặng thêm.
3. Làm sao để phát hiện bệnh do vi khuẩn Listeria trên heo?
Bệnh do vi khuẩn Listeria trên heo thường chỉ xuất hiện trên heo nái và heo con theo mẹ. Vì vậy, ta tập trung quan sát 2 đối tượng này, nếu thấy có các biểu hiện sau đây thì có thể heo đã bị nhiễm vi khuẩn Listeria.
Heo nái:
- Ít khi thấy biểu hiện rõ triệu chứng.
- Nếu có thì có thể có các triệu chứng như:
    o Sẩy thai.
    o Số heo con sinh ra yếu gia tăng.
    o Tăng số heo con chết lưu.
Heo con theo mẹ:


Đột tử.
- Sốt cao.
- Nhiễm trùng huyết.
- Triệu chứng thần kinh, viêm màng não.
- Đầu bị nghiêng 1 bên.
- Nhiễm trùng tai.
Trong trường hợp bệnh do vi khuẩn Listeria trên heo gây thiệt hại nhiều, để chắc chắn ta nên mang mẫu bệnh phẩm đi xét nghiệm để tìm chính xác căn nguyên gây bệnh nhằm có biện pháp điều trị kịp thời.
4. Xử lý bệnh do vi khuẩn Listeria trên heo như thế nào?
Hành động đầu tiên nếu phát hiện heo nhiễm bện bệnh do vi khuẩn Listeria trên heo là cách ly toàn bộ heo bệnh sang một ô chuồng khác để chăm sóc theo chế độ riêng.
Nếu heo đang ăn thức ăn ủ chua thì nên dừng lại ngay. Sau đó tiến hành điều trị cho heo bệnh bằng kháng sinh và các thuốc trợ sức, trợ lực (nhất là với những heo giảm mức thu nhận thức ăn).
Các thuốc kháng sinh hiệu quả với bệnh do vi khuẩn Listeria trên heo bao gồm: penicillin, ceftiofur, erythromycin , và trimethoprim/sulfonamide. Trong đó, penicillin là thuốc có tác dụng tốt nhất cho đến hiện nay.
Khi tiêm kháng sinh, cần dùng ngay liều cao từ ban đầu vì như vậy mới có thể đạt được nồng độ diệt khuẩn tối thiểu trong não.
BiotechVET  tổng hợp theo Vietdvm

DTK Biotech-Vet -Vi khuẩn Listeria trên heo con – nhiễm trùng huyết, viêm não.

 1. Bệnh do vi khuẩn Listeria trên heo là bệnh gì?
Listeriosis là một bệnh nhiễm khuẩn ảnh hưởng đến nhiều loài động vật, bao gồm cả heo, người, chim và các động vật nhai lại. Bệnh do vi khuẩn tên là Listeria monocytogenes gây ra và được tìm thấy ở rất nhiều nơi trên toàn thế giới, đặc biệt là ở những vùng có khí hậu ôn đới và khí hậu lạnh.
Vi khuẩn thường được tìm thấy trong ruột của heo và các loài cảm nhiễm khác. Ngoài ra, nó còn xuất hiện nhiều trong pho mát và thức ăn ủ chua. Heo sẽ bị nhiễm trùng nếu tiếp xúc với mầm bệnh, dù vậy bệnh rất ít xảy ra trên heo.

Vi khuẩn thường gây viêm não và viêm màng não mãn tính trên động vật nhai lại trưởng thành. Hơn nữa, nó cũng gây ra rất nhiều những thiệt hại đáng kể trên người.
2. Bệnh do vi khuẩn Listeria trên heo nguy hiểm như thế nào?
Khi heo khỏe hít phải, ăn phải vi khuẩn, vi khuẩn xâm nhập đến các mô, cơ quan đích và gây nên các triệu chứng bệnh tương ứng như:
- Xâm nhập vào máu gây nhiễm trùng huyết. nhiễm trùng tiềm ẩn (ít biểu hiện triệu chứng ra ngoài).
- Xâm nhập vào bào thai, vào tử cung gây thai chết lưu, hỏng thai, gây chết heo con sơ sinh, sinh non…
- Xâm nhập vào thành ruột gây rối loạn tiêu hóa, hấp thu…
- Xâm nhập vào màng não và các tế bào não gây triệu chứng thần kinh, viêm màng não, viêm não.
- Xâm nhập đến các cơ quan nội tạng như gan gây hoại tử gan.
Mặc dù bệnh do vi khuẩn Listeria trên heo ít khi phát triển nặng trên heo nhưng với mật độ mầm bệnh dày đặc và đa dạng như hiện nay, nếu chúng ta không làm tốt công tác vệ sinh tiêu độc khử trùng thì khi được các mầm bệnh khác “mở đường”, vi khuẩn Listeria hoàn toàn có thể xâm nhập và làm cho tình trạng càng nặng thêm.
3. Làm sao để phát hiện bệnh do vi khuẩn Listeria trên heo?
Bệnh do vi khuẩn Listeria trên heo thường chỉ xuất hiện trên heo nái và heo con theo mẹ. Vì vậy, ta tập trung quan sát 2 đối tượng này, nếu thấy có các biểu hiện sau đây thì có thể heo đã bị nhiễm vi khuẩn Listeria.
Heo nái:
- Ít khi thấy biểu hiện rõ triệu chứng.
- Nếu có thì có thể có các triệu chứng như:
    o Sẩy thai.
    o Số heo con sinh ra yếu gia tăng.
    o Tăng số heo con chết lưu.
Heo con theo mẹ:


Đột tử.
- Sốt cao.
- Nhiễm trùng huyết.
- Triệu chứng thần kinh, viêm màng não.
- Đầu bị nghiêng 1 bên.
- Nhiễm trùng tai.
Trong trường hợp bệnh do vi khuẩn Listeria trên heo gây thiệt hại nhiều, để chắc chắn ta nên mang mẫu bệnh phẩm đi xét nghiệm để tìm chính xác căn nguyên gây bệnh nhằm có biện pháp điều trị kịp thời.
4. Xử lý bệnh do vi khuẩn Listeria trên heo như thế nào?
Hành động đầu tiên nếu phát hiện heo nhiễm bện bệnh do vi khuẩn Listeria trên heo là cách ly toàn bộ heo bệnh sang một ô chuồng khác để chăm sóc theo chế độ riêng.
Nếu heo đang ăn thức ăn ủ chua thì nên dừng lại ngay. Sau đó tiến hành điều trị cho heo bệnh bằng kháng sinh và các thuốc trợ sức, trợ lực (nhất là với những heo giảm mức thu nhận thức ăn).
Các thuốc kháng sinh hiệu quả với bệnh do vi khuẩn Listeria trên heo bao gồm: penicillin, ceftiofur, erythromycin , và trimethoprim/sulfonamide. Trong đó, penicillin là thuốc có tác dụng tốt nhất cho đến hiện nay.
Khi tiêm kháng sinh, cần dùng ngay liều cao từ ban đầu vì như vậy mới có thể đạt được nồng độ diệt khuẩn tối thiểu trong não.
BiotechVET  tổng hợp theo Vietdvm
Đọc thêm
 Thời gian qua, tại nhiều địa phương của tỉnh, người nông dân đang hào hứng với mô hình nuôi thỏ lai đem lại hiệu quả kinh tế cao. Với nhiều ưu điểm như: Thỏ lai rất dễ nuôi, ít dịch bệnh, có chi phí đầu tư thấp, giá bán trên thị trường ổn định, chất lượng thịt thơm ngon… Đến nay, mô hình này đã khẳng định hiệu quả, mở ra hướng phát triển kinh tế mới, giúp nông dân nâng cao thu nhập và thoát nghèo.
Trên địa bàn huyện Lập Thạch, kể từ năm 2013, Hội Nông dân huyện đã phối hợp với Trung tâm Tư vấn và Chuyển giao khoa học công nghệ của tỉnh tiến hành thực hiện thí điểm dự án nuôi thỏ lai Niu Di-lân sinh sản tại hai xã Đình Chu và Văn Quán, quy mô ban đầu có 8 hộ tham gia và đến nay đã được nhân rộng ở nhiều nơi.
Gia đình ông Trần Văn Lục ở Thôn Han, xã Ngọc Mỹ bắt đầu nuôi thỏ từ năm 2014 với mô hình 40 thỏ nái, 20 thỏ đực. Sau nhiều lần nhân giống và xuất bán, đến nay tổng số thỏ nái sinh sản, thỏ thương phẩm của gia đình đã lên tới 100 con. Theo ông Lục, giống thỏ lai này dễ nuôi, ít dịch bệnh, chi phí đầu tư thấp, giá bán ổn định.
Sau 5- 6 tháng nuôi, thỏ nái bắt đầu sinh sản, bình quân từ 6- 8 lứa/năm, mỗi lứa trung bình từ 6- 10 con; mỗi tháng, gia đình ông Lục cung cấp cho thị trường từ 1- 1,5 tạ thịt thỏ thương phẩm. Với giá bán trung bình hiện nay vào khoảng 70.000 đồng/kg, sau khi trừ chi phí, mỗi lứa thỏ gia đình ông thu lãi khoảng 10 triệu đồng.
Từ những thành công bước đầu của các hộ tham gia mô hình, hiện toàn huyện đã nhân rộng ra được 200 hộ trên địa bàn 11 xã với tổng đàn gần 3.000 con. Theo đánh giá của Hội Nông dân huyện, đây là mô hình có hiệu quả cao, đàn thỏ sinh trưởng, phát triển và thích nghi khá tốt, bước đầu góp phần hình thành nên vùng sản xuất hàng hóa tập trung, nâng cao thu nhập cho người dân trên địa bàn.
Hiện nay, xã Ngọc Mỹ là địa phương có số lượng đàn thỏ lai Niu Di-lân sinh sản lớn nhất trong huyện Lập Thạch. Theo ông Nguyễn Văn Thống- Chủ tịch Hội Nông dân xã cho biết: Nhận thấy mô hình chăn nuôi thỏ có tính chất bền vững, đem lại lợi nhuận cao, chính quyền xã đã đẩy mạnh tuyên truyền, khuyến khích các hộ chuyển từ chăn nuôi lợn, gà đẻ kém hiệu quả sang chăn nuôi thỏ lai Niu Di-lân sinh sản.
Mô hình này cũng đang được phát triển rộng rãi trên địa bàn huyện Tam Đảo mà điển hình là trang trại nuôi thỏ quy mô, cho thu nhập cao của anh Nguyễn Mạnh Thắng ở xã Yên Dương. Trước khi nuôi thỏ, anh Thắng cũng đã từng chăn nuôi gà thương phẩm, nhưng sau một thời gian, nhận thấy hiệu quả không cao nên anh quyết định bán thanh lý hết số gà dù lỗ vốn để tìm một mô hình chăn nuôi mới.
Từ năm 2014, qua tìm hiểu trên các phương tiện thông tin đại chúng, anh Thắng đầu tư mua hơn 80 con thỏ giống Niu Di-lân, vừa nuôi vừa học hỏi kinh nghiệm. Sau gần 3 tháng, anh xuất bán lứa thỏ thương phẩm đầu tiên cho lãi 40.000 đồng/con. Từ kết quả đạt được, năm 2015, anh tiếp tục đầu tư 600 triệu đồng để xây dựng chuồng trại chăn nuôi theo hướng VietGAP. Đến nay, trại thỏ của anh được nhân rộng lên 250 con thỏ cái, 40 con thỏ đực, 1.400 thỏ thương phẩm, 300 thỏ giống để cung cấp ra thị trường.
Anh Thắng cho biết: Giống thỏ nhập ngoại này có đặc điểm sinh sản tốt, thức ăn dễ kiếm, hơn nữa vật nuôi lại rất thích hợp với khí hậu ở Việt Nam. Tuy nhiên, do những ngày đầu anh chưa nắm bắt được kỹ thuật nên thỏ hay bị chết do bị bệnh đường ruột. Anh đã phải thường xuyên đi đến các trang trại khác để học hỏi kỹ thuật, từ việc vệ sinh máng ăn, máng uống đến vệ sinh chuồng trại, phòng bệnh cho thỏ đều phải cẩn thận, sạch sẽ mới giúp cho thỏ phát triển tốt.
Nhờ tích lũy dần kinh nghiệm chăm sóc nên tình trạng thỏ chết rải rác trước đây không còn, số lượng thỏ của anh ngày một tăng lên. Với giá thỏ giống xuất bán từ 150.000- 170.000 đồng/kg, thỏ thịt 80- 85.000 đồng/kg, bình quân mỗi tháng, gia đình anh thu lãi khoảng 20 triệu đồng sau khi trừ chi phí.
Bên cạnh đó, để đầu ra cho thỏ được ổn định, anh Thắng còn mạnh dạn đứng ra thành lập Hợp tác xã chăn nuôi Tam Đảo và ký hợp đồng bao tiêu sản phẩm với Công ty TNHH Lipon joki Việt Nam. Kể từ đó, đầu ra cho thỏ thương phẩm của anh luôn ổn định, dần tạo thành một chuỗi các trang trại thỏ, cho thu nhập cao.
Anh Thắng chia sẻ thêm: Đối với các hộ tham gia HTX, thời gian nuôi từ khi thỏ đẻ đến lúc xuất bán khoảng 90 ngày, nếu người nuôi tuân thủ nghiêm ngặt đúng các quy trình kỹ thuật chăn nuôi, phòng bệnh, khi xuất bán thỏ đạt tiêu chuẩn trọng lượng từ 2,3kg/con trở lên, khỏe mạnh, không bị dị tật sẽ có giá trên 170.000 đồng/con. Những hộ trung bình một tháng xuất được khoảng 500 con thỏ đạt tiêu chuẩn vào nhà máy sẽ cho thu lãi 20 triệu đồng/tháng.
Sau thời gian đầu thành lập và đi vào hoạt động ổn định theo hình thức liên kết sản xuất- tiêu thụ sản phẩm, đến nay, HTX chăn nuôi Tam Đảo đã chiếm được niềm tin, sự tham gia nhiệt tình của đông đảo hộ xã viên thôn Quang Đạo, xã Yên Dương. Nhờ lựa chọn được hướng đi đúng, cách làm hay đã mang lại hiệu quả kinh tế cao, qua đó giúp nhiều hội viên, nông dân có cuộc sống khấm khá hơn. 
Với chi phí đầu tư cho chuồng trại thấp; nguồn thức ăn cho thỏ lai dễ kiếm, có thể tận dụng tối đa nguồn thức ăn sẵn có, chủ yếu là các loại thức ăn thô xanh như thân, lá các loại cây họ đậu, cây sắn, khoai lang, cỏ voi, su hào… không tốn nhiều chi phí. Ngoài ra, với khả năng thu hồi vốn nhanh, phù hợp quy mô chăn nuôi của hộ gia đình, mô hình nuôi thỏ lai Niu Di-lân sinh sản đã chứng tỏ là hướng phát triển kinh tế hiệu quả, nhất là tại các địa phương có thế mạnh phát triển kinh tế đồi rừng, có diện tích chăn nuôi rộng, xa khu tập trung đông dân cư.
BiotechVET  tổng hợp theo HND

DTK Biotech-Vet - Mô hình làm giàu từ nghề nuôi thỏ lai nhập ngoại

 Thời gian qua, tại nhiều địa phương của tỉnh, người nông dân đang hào hứng với mô hình nuôi thỏ lai đem lại hiệu quả kinh tế cao. Với nhiều ưu điểm như: Thỏ lai rất dễ nuôi, ít dịch bệnh, có chi phí đầu tư thấp, giá bán trên thị trường ổn định, chất lượng thịt thơm ngon… Đến nay, mô hình này đã khẳng định hiệu quả, mở ra hướng phát triển kinh tế mới, giúp nông dân nâng cao thu nhập và thoát nghèo.
Trên địa bàn huyện Lập Thạch, kể từ năm 2013, Hội Nông dân huyện đã phối hợp với Trung tâm Tư vấn và Chuyển giao khoa học công nghệ của tỉnh tiến hành thực hiện thí điểm dự án nuôi thỏ lai Niu Di-lân sinh sản tại hai xã Đình Chu và Văn Quán, quy mô ban đầu có 8 hộ tham gia và đến nay đã được nhân rộng ở nhiều nơi.
Gia đình ông Trần Văn Lục ở Thôn Han, xã Ngọc Mỹ bắt đầu nuôi thỏ từ năm 2014 với mô hình 40 thỏ nái, 20 thỏ đực. Sau nhiều lần nhân giống và xuất bán, đến nay tổng số thỏ nái sinh sản, thỏ thương phẩm của gia đình đã lên tới 100 con. Theo ông Lục, giống thỏ lai này dễ nuôi, ít dịch bệnh, chi phí đầu tư thấp, giá bán ổn định.
Sau 5- 6 tháng nuôi, thỏ nái bắt đầu sinh sản, bình quân từ 6- 8 lứa/năm, mỗi lứa trung bình từ 6- 10 con; mỗi tháng, gia đình ông Lục cung cấp cho thị trường từ 1- 1,5 tạ thịt thỏ thương phẩm. Với giá bán trung bình hiện nay vào khoảng 70.000 đồng/kg, sau khi trừ chi phí, mỗi lứa thỏ gia đình ông thu lãi khoảng 10 triệu đồng.
Từ những thành công bước đầu của các hộ tham gia mô hình, hiện toàn huyện đã nhân rộng ra được 200 hộ trên địa bàn 11 xã với tổng đàn gần 3.000 con. Theo đánh giá của Hội Nông dân huyện, đây là mô hình có hiệu quả cao, đàn thỏ sinh trưởng, phát triển và thích nghi khá tốt, bước đầu góp phần hình thành nên vùng sản xuất hàng hóa tập trung, nâng cao thu nhập cho người dân trên địa bàn.
Hiện nay, xã Ngọc Mỹ là địa phương có số lượng đàn thỏ lai Niu Di-lân sinh sản lớn nhất trong huyện Lập Thạch. Theo ông Nguyễn Văn Thống- Chủ tịch Hội Nông dân xã cho biết: Nhận thấy mô hình chăn nuôi thỏ có tính chất bền vững, đem lại lợi nhuận cao, chính quyền xã đã đẩy mạnh tuyên truyền, khuyến khích các hộ chuyển từ chăn nuôi lợn, gà đẻ kém hiệu quả sang chăn nuôi thỏ lai Niu Di-lân sinh sản.
Mô hình này cũng đang được phát triển rộng rãi trên địa bàn huyện Tam Đảo mà điển hình là trang trại nuôi thỏ quy mô, cho thu nhập cao của anh Nguyễn Mạnh Thắng ở xã Yên Dương. Trước khi nuôi thỏ, anh Thắng cũng đã từng chăn nuôi gà thương phẩm, nhưng sau một thời gian, nhận thấy hiệu quả không cao nên anh quyết định bán thanh lý hết số gà dù lỗ vốn để tìm một mô hình chăn nuôi mới.
Từ năm 2014, qua tìm hiểu trên các phương tiện thông tin đại chúng, anh Thắng đầu tư mua hơn 80 con thỏ giống Niu Di-lân, vừa nuôi vừa học hỏi kinh nghiệm. Sau gần 3 tháng, anh xuất bán lứa thỏ thương phẩm đầu tiên cho lãi 40.000 đồng/con. Từ kết quả đạt được, năm 2015, anh tiếp tục đầu tư 600 triệu đồng để xây dựng chuồng trại chăn nuôi theo hướng VietGAP. Đến nay, trại thỏ của anh được nhân rộng lên 250 con thỏ cái, 40 con thỏ đực, 1.400 thỏ thương phẩm, 300 thỏ giống để cung cấp ra thị trường.
Anh Thắng cho biết: Giống thỏ nhập ngoại này có đặc điểm sinh sản tốt, thức ăn dễ kiếm, hơn nữa vật nuôi lại rất thích hợp với khí hậu ở Việt Nam. Tuy nhiên, do những ngày đầu anh chưa nắm bắt được kỹ thuật nên thỏ hay bị chết do bị bệnh đường ruột. Anh đã phải thường xuyên đi đến các trang trại khác để học hỏi kỹ thuật, từ việc vệ sinh máng ăn, máng uống đến vệ sinh chuồng trại, phòng bệnh cho thỏ đều phải cẩn thận, sạch sẽ mới giúp cho thỏ phát triển tốt.
Nhờ tích lũy dần kinh nghiệm chăm sóc nên tình trạng thỏ chết rải rác trước đây không còn, số lượng thỏ của anh ngày một tăng lên. Với giá thỏ giống xuất bán từ 150.000- 170.000 đồng/kg, thỏ thịt 80- 85.000 đồng/kg, bình quân mỗi tháng, gia đình anh thu lãi khoảng 20 triệu đồng sau khi trừ chi phí.
Bên cạnh đó, để đầu ra cho thỏ được ổn định, anh Thắng còn mạnh dạn đứng ra thành lập Hợp tác xã chăn nuôi Tam Đảo và ký hợp đồng bao tiêu sản phẩm với Công ty TNHH Lipon joki Việt Nam. Kể từ đó, đầu ra cho thỏ thương phẩm của anh luôn ổn định, dần tạo thành một chuỗi các trang trại thỏ, cho thu nhập cao.
Anh Thắng chia sẻ thêm: Đối với các hộ tham gia HTX, thời gian nuôi từ khi thỏ đẻ đến lúc xuất bán khoảng 90 ngày, nếu người nuôi tuân thủ nghiêm ngặt đúng các quy trình kỹ thuật chăn nuôi, phòng bệnh, khi xuất bán thỏ đạt tiêu chuẩn trọng lượng từ 2,3kg/con trở lên, khỏe mạnh, không bị dị tật sẽ có giá trên 170.000 đồng/con. Những hộ trung bình một tháng xuất được khoảng 500 con thỏ đạt tiêu chuẩn vào nhà máy sẽ cho thu lãi 20 triệu đồng/tháng.
Sau thời gian đầu thành lập và đi vào hoạt động ổn định theo hình thức liên kết sản xuất- tiêu thụ sản phẩm, đến nay, HTX chăn nuôi Tam Đảo đã chiếm được niềm tin, sự tham gia nhiệt tình của đông đảo hộ xã viên thôn Quang Đạo, xã Yên Dương. Nhờ lựa chọn được hướng đi đúng, cách làm hay đã mang lại hiệu quả kinh tế cao, qua đó giúp nhiều hội viên, nông dân có cuộc sống khấm khá hơn. 
Với chi phí đầu tư cho chuồng trại thấp; nguồn thức ăn cho thỏ lai dễ kiếm, có thể tận dụng tối đa nguồn thức ăn sẵn có, chủ yếu là các loại thức ăn thô xanh như thân, lá các loại cây họ đậu, cây sắn, khoai lang, cỏ voi, su hào… không tốn nhiều chi phí. Ngoài ra, với khả năng thu hồi vốn nhanh, phù hợp quy mô chăn nuôi của hộ gia đình, mô hình nuôi thỏ lai Niu Di-lân sinh sản đã chứng tỏ là hướng phát triển kinh tế hiệu quả, nhất là tại các địa phương có thế mạnh phát triển kinh tế đồi rừng, có diện tích chăn nuôi rộng, xa khu tập trung đông dân cư.
BiotechVET  tổng hợp theo HND
Đọc thêm
Có tấm bằng cử nhân đại học trên tay, nhưng nhiều thanh niên của vùng đất Bắc Ninh - Kinh Bắc quyết tâm trở về lập nghiệp trên chính mảnh đất nông nghiệp quê hương mình.
Tốt nghiệp Đại học Kinh tế Quốc dân năm 2009, Nguyễn Hữu Dũng, xã Mỹ Hương, huyện Lương Tài (tỉnh Bắc Ninh) cũng như bao bạn trẻ khác định tìm cho mình một việc làm ở các thành phố lớn. Tuy nhiên, sau 2 năm lăn lộn khắp các công ty, ở nhiều địa phương, anh nhận thấy cơ hội để phát triển khá mong manh. Suy nghĩ, đắn đo rất lâu nhưng quyết định về quê để làm giàu từ đất ruộng lại được Dũng đưa ra rất nhanh. 

Cái khó nhất trong thời điểm bắt đầu của Dũng lại là… dư luận. Hàng xóm, láng giềng, bạn bè, người thân xì xào, bán tín, bán nghi về việc anh bất ngờ về quê. Bởi trong tiềm thức người dân quê anh, chỉ có bị “vấn đề” gì mới về quê làm ăn, đất quê chỉ dành cho cánh thanh niên ít học ở quê, chứ những người đã mất bao tiền của để có tấm bằng đại học thì về quê đương nhiên là một sự thất bại. Điều động viên duy nhất là Dũng nhận được sự ủng hộ nhiệt tình của những người thân trong gia đình bằng việc hứa sẽ cung cấp vốn cho Dũng làm ăn.
Ban đầu, Dũng quyết định sản xuất củi trấu bởi một suy nghĩ đơn giản, trấu là thứ rất gần gũi và là đồ bỏ đi của người dân địa phương nhưng lại có thể chế biến thành những sản phẩm hữu ích. Dũng kiên trì mày mò kỹ thuật sản xuất, tìm kiếm bạn hàng, sau 1 năm hoạt động, cơ sở của anh đã hoàn vốn và mở rộng thị trường. Hiện nay, mô hình sản xuất củi trấu của anh đã trở thành hướng đi tiêu biểu của thanh niên Lương Tài, thu hút sự quan tâm của nhiều bạn trẻ. Tuy nhiên, Dũng không muốn dừng lại ở đó. Anh chuyển sang thu mua, bảo quản và xuất khẩu các sản phẩm nông sản của quê hương. Dũng đầu tư khu nhà xưởng diện tích 8.800m2 với dây chuyền sơ chế, kho lạnh đạt quy chuẩn xuất khẩu. Nhờ đó, anh có thể thu gom, bảo quản các loại rau màu như cà rốt, hành, tỏi… trong thời gian lâu hơn. Với kiến thức kinh tế và ngoại ngữ của mình, Dũng đã lên mạng tìm kiếm các đối tác nước ngoài, tự chào hàng bằng các công cụ phổ biến hiện nay như mạng xã hội Facebook, Youtube… Nhờ vậy, nhiều mặt hàng nông sản của công ty có thể giao trực tiếp cho các doanh nghiệp Hàn Quốc, Nhật Bản, Malaysia. Với riêng cây cà rốt, hiện nay mỗi năm anh xuất khẩu hơn 10.000 tấn tạo doanh thu hàng chục tỷ đồng. Hiện nay, công ty của anh đã tạo việc làm thường xuyên cho 15 lao động và 80 lao động làm thời vụ với thu nhập 150.000 đồng/người/ngày.
Ngoài mô hình của anh Nguyễn Hữu Dũng, có thể kể đến mô hình làm kinh tế tổng hợp của anh Nguyễn Văn Hịu, xã Nghĩa Đạo, huyện Thuận Thành (tốt nghiệp Đại học Kinh tế quốc dân), mô hình nuôi vịt trời của anh Nguyễn Đăng Cường xã Đại Đồng Thành, huyện Thuận Thành (tốt nghiệp Học viện Nông nghiệp) hay anh Hoàng Xuân Sơn, xã Bồng Lai, Quế Võ (tốt nghiệp Học viện Nông nghiệp). Họ đều trở thành những điển hình cử nhân đại học về quê làm giàu, thu nhập hàng tỷ đồng mỗi năm, mang lại những hiệu quả mới cho kinh tế nông nghiệp địa phương.
Trang trại của anh Nguyễn Đăng Cường có tổng diện tích 2,5 ha, giai đoạn 2016- 2020 mở rộng quy mô chuồng trại, diện tích nuôi trồng thủy sản, rau hữu cơ hơn 30 ha với tổng đầu tư khoảng 20 tỷ đồng. Diện tích lớn là thế nhưng có những khu vực thời hạn thuê đất chỉ 5 năm - 10 năm, anh Cường cho biết: “Thời gian để cải tạo đất canh tác cho phù hợp với mục đích phát triển kinh tế của chúng tôi đã mất đến vài năm mà thời hạn thuê đất chỉ 5-10 năm như vậy là quá ngắn, trong khi sản xuất nông nghiệp không thể cho ra thành quả ngay được”. Anh Nguyễn Văn Hịu, chủ trang trại ở thôn Nhiễm Dường, xã Nghĩa Đạo, huyện Thuận Thành chia sẻ: “Sau 3 năm làm ở một doanh nghiệp ô tô với mức lương gần 20 triệu đồng/tháng, tôi có số vốn nho nhỏ để bắt tay vào mở trang trại. Tuy nhiên, để đáp ứng tham vọng là mở rộng quy mô nông sản hàng hóa, cung ứng vật tư, giống… cho người dân địa phương, thì quả thật số tiền dành dụm được chẳng thấm vào đâu”. Đây cũng là băn khoăn của khá nhiều bạn trẻ khi bắt tay vào xây dựng, phát triển các mô hình nông nghiệp nông thôn.

DTK Biotech-Vet -Cử nhân đại học làm giàu từ Nông nghiệp

Có tấm bằng cử nhân đại học trên tay, nhưng nhiều thanh niên của vùng đất Bắc Ninh - Kinh Bắc quyết tâm trở về lập nghiệp trên chính mảnh đất nông nghiệp quê hương mình.
Tốt nghiệp Đại học Kinh tế Quốc dân năm 2009, Nguyễn Hữu Dũng, xã Mỹ Hương, huyện Lương Tài (tỉnh Bắc Ninh) cũng như bao bạn trẻ khác định tìm cho mình một việc làm ở các thành phố lớn. Tuy nhiên, sau 2 năm lăn lộn khắp các công ty, ở nhiều địa phương, anh nhận thấy cơ hội để phát triển khá mong manh. Suy nghĩ, đắn đo rất lâu nhưng quyết định về quê để làm giàu từ đất ruộng lại được Dũng đưa ra rất nhanh. 

Cái khó nhất trong thời điểm bắt đầu của Dũng lại là… dư luận. Hàng xóm, láng giềng, bạn bè, người thân xì xào, bán tín, bán nghi về việc anh bất ngờ về quê. Bởi trong tiềm thức người dân quê anh, chỉ có bị “vấn đề” gì mới về quê làm ăn, đất quê chỉ dành cho cánh thanh niên ít học ở quê, chứ những người đã mất bao tiền của để có tấm bằng đại học thì về quê đương nhiên là một sự thất bại. Điều động viên duy nhất là Dũng nhận được sự ủng hộ nhiệt tình của những người thân trong gia đình bằng việc hứa sẽ cung cấp vốn cho Dũng làm ăn.
Ban đầu, Dũng quyết định sản xuất củi trấu bởi một suy nghĩ đơn giản, trấu là thứ rất gần gũi và là đồ bỏ đi của người dân địa phương nhưng lại có thể chế biến thành những sản phẩm hữu ích. Dũng kiên trì mày mò kỹ thuật sản xuất, tìm kiếm bạn hàng, sau 1 năm hoạt động, cơ sở của anh đã hoàn vốn và mở rộng thị trường. Hiện nay, mô hình sản xuất củi trấu của anh đã trở thành hướng đi tiêu biểu của thanh niên Lương Tài, thu hút sự quan tâm của nhiều bạn trẻ. Tuy nhiên, Dũng không muốn dừng lại ở đó. Anh chuyển sang thu mua, bảo quản và xuất khẩu các sản phẩm nông sản của quê hương. Dũng đầu tư khu nhà xưởng diện tích 8.800m2 với dây chuyền sơ chế, kho lạnh đạt quy chuẩn xuất khẩu. Nhờ đó, anh có thể thu gom, bảo quản các loại rau màu như cà rốt, hành, tỏi… trong thời gian lâu hơn. Với kiến thức kinh tế và ngoại ngữ của mình, Dũng đã lên mạng tìm kiếm các đối tác nước ngoài, tự chào hàng bằng các công cụ phổ biến hiện nay như mạng xã hội Facebook, Youtube… Nhờ vậy, nhiều mặt hàng nông sản của công ty có thể giao trực tiếp cho các doanh nghiệp Hàn Quốc, Nhật Bản, Malaysia. Với riêng cây cà rốt, hiện nay mỗi năm anh xuất khẩu hơn 10.000 tấn tạo doanh thu hàng chục tỷ đồng. Hiện nay, công ty của anh đã tạo việc làm thường xuyên cho 15 lao động và 80 lao động làm thời vụ với thu nhập 150.000 đồng/người/ngày.
Ngoài mô hình của anh Nguyễn Hữu Dũng, có thể kể đến mô hình làm kinh tế tổng hợp của anh Nguyễn Văn Hịu, xã Nghĩa Đạo, huyện Thuận Thành (tốt nghiệp Đại học Kinh tế quốc dân), mô hình nuôi vịt trời của anh Nguyễn Đăng Cường xã Đại Đồng Thành, huyện Thuận Thành (tốt nghiệp Học viện Nông nghiệp) hay anh Hoàng Xuân Sơn, xã Bồng Lai, Quế Võ (tốt nghiệp Học viện Nông nghiệp). Họ đều trở thành những điển hình cử nhân đại học về quê làm giàu, thu nhập hàng tỷ đồng mỗi năm, mang lại những hiệu quả mới cho kinh tế nông nghiệp địa phương.
Trang trại của anh Nguyễn Đăng Cường có tổng diện tích 2,5 ha, giai đoạn 2016- 2020 mở rộng quy mô chuồng trại, diện tích nuôi trồng thủy sản, rau hữu cơ hơn 30 ha với tổng đầu tư khoảng 20 tỷ đồng. Diện tích lớn là thế nhưng có những khu vực thời hạn thuê đất chỉ 5 năm - 10 năm, anh Cường cho biết: “Thời gian để cải tạo đất canh tác cho phù hợp với mục đích phát triển kinh tế của chúng tôi đã mất đến vài năm mà thời hạn thuê đất chỉ 5-10 năm như vậy là quá ngắn, trong khi sản xuất nông nghiệp không thể cho ra thành quả ngay được”. Anh Nguyễn Văn Hịu, chủ trang trại ở thôn Nhiễm Dường, xã Nghĩa Đạo, huyện Thuận Thành chia sẻ: “Sau 3 năm làm ở một doanh nghiệp ô tô với mức lương gần 20 triệu đồng/tháng, tôi có số vốn nho nhỏ để bắt tay vào mở trang trại. Tuy nhiên, để đáp ứng tham vọng là mở rộng quy mô nông sản hàng hóa, cung ứng vật tư, giống… cho người dân địa phương, thì quả thật số tiền dành dụm được chẳng thấm vào đâu”. Đây cũng là băn khoăn của khá nhiều bạn trẻ khi bắt tay vào xây dựng, phát triển các mô hình nông nghiệp nông thôn.
Đọc thêm
Vụ mùa năm 2017, huyện Hồng Dân, tỉnh Bạc Liêu được Viện Nghiên cứu nuôi trồng thủy sản II (thuộc Bộ NN&PTNT) đầu tư dự án mô hình nuôi tôm sú - trồng lúa. Mục tiêu của dự án là nâng cao năng suất và chất lượng con tôm và hạt lúa, từng bước xây dựng mô hình nuôi tôm sú - trồng lúa phát triển bền vững. Bước đầu dự án này đã phát huy hiệu quả.
Nông dân huyện Hồng Dân thu hoạch tôm sú trên đất trồng lúa. Ảnh: K.T
Dự án mô hình nuôi tôm sú - trồng lúa được thực hiện thí điểm trên diện tích 20ha, có 16 hộ dân thuộc xã Vĩnh Lộc (huyện Hồng Dân) tham gia. Giai đoạn đầu của dự án, bà con thả nuôi tôm sú và giai đoạn thứ hai là sản xuất lúa. Nông dân tham gia dự án được hỗ trợ toàn bộ con giống, kỹ thuật.
Điểm nổi bật của dự án là trong quá trình nuôi tôm sú hay sản xuất lúa, bà con không sử dụng thuốc hóa học, mà chỉ sử dụng chế phẩm sinh học. Điều này giúp sản phẩm làm ra đảm bảo chất lượng. Dự án đang thực hiện giai đoạn đầu là nuôi tôm sú. Theo đánh giá, bước đầu dự án đã đạt được hiệu quả nhất định.
Ông Trần Văn Vái (ấp Vĩnh Hòa, xã Vĩnh Lộc) - 1 trong 16 hộ thực hiện dự án, cho biết: “Gia đình tôi có gần 2ha đất sản xuất theo mô hình tôm sú - trồng lúa. Những năm qua, việc sản xuất của gia đình tôi gặp nhiều khó khăn do ảnh hưởng của biến đổi khí hậu. Tuy nhiên, đầu năm 2017, tôi được Viện Nghiên cứu nuôi trồng thủy sản II đầu tư thực hiện dự án mô hình nuôi tôm sú - lúa với gần 2ha. Tôi đã thu hoạch lứa tôm đầu tiên với năng suất đạt khoảng 400kg/ha, cao nhất so từ trước đến nay".
Mô hình tôm sú - trồng lúa đem lại hiệu quả kinh tế cao cho nông dân. Tuy nhiên, nếu người dân chỉ quan tâm đến việc nuôi tôm mà bỏ qua sản xuất lúa thì khả năng sẽ làm mất đi tính hiệu quả của mô hình. Bởi, nếu sản xuất thâm canh tôm sú liên tục thì ao nuôi dễ bị lão hóa, phát sinh nhiều mầm bệnh. Do đó, theo Tiến sĩ Vũ Anh Tuấn, Phân viện trưởng Phân viện Nghiên cứu thủy sản Nam Sông Hậu (thuộc Viện Nghiên cứu nuôi trồng thủy sản II): “Dự án mô hình nuôi tôm sú - trồng lúa ngoài mục đích nâng cao năng suất, chất lượng của con tôm và hạt lúa, còn giúp người dân biết được lợi ích của trồng lúa trong thực hiện mô hình. Qua đó góp phần giúp mô hình tôm sú - trồng lúa ngày càng phát triển bền vững trong điều kiện biến đổi khí hậu như hiện nay”.

DTK Biotech-Vet - Mô hình nuôi tôm sú - trồng lúa: Hiệu quả kinh tế cao

Vụ mùa năm 2017, huyện Hồng Dân, tỉnh Bạc Liêu được Viện Nghiên cứu nuôi trồng thủy sản II (thuộc Bộ NN&PTNT) đầu tư dự án mô hình nuôi tôm sú - trồng lúa. Mục tiêu của dự án là nâng cao năng suất và chất lượng con tôm và hạt lúa, từng bước xây dựng mô hình nuôi tôm sú - trồng lúa phát triển bền vững. Bước đầu dự án này đã phát huy hiệu quả.
Nông dân huyện Hồng Dân thu hoạch tôm sú trên đất trồng lúa. Ảnh: K.T
Dự án mô hình nuôi tôm sú - trồng lúa được thực hiện thí điểm trên diện tích 20ha, có 16 hộ dân thuộc xã Vĩnh Lộc (huyện Hồng Dân) tham gia. Giai đoạn đầu của dự án, bà con thả nuôi tôm sú và giai đoạn thứ hai là sản xuất lúa. Nông dân tham gia dự án được hỗ trợ toàn bộ con giống, kỹ thuật.
Điểm nổi bật của dự án là trong quá trình nuôi tôm sú hay sản xuất lúa, bà con không sử dụng thuốc hóa học, mà chỉ sử dụng chế phẩm sinh học. Điều này giúp sản phẩm làm ra đảm bảo chất lượng. Dự án đang thực hiện giai đoạn đầu là nuôi tôm sú. Theo đánh giá, bước đầu dự án đã đạt được hiệu quả nhất định.
Ông Trần Văn Vái (ấp Vĩnh Hòa, xã Vĩnh Lộc) - 1 trong 16 hộ thực hiện dự án, cho biết: “Gia đình tôi có gần 2ha đất sản xuất theo mô hình tôm sú - trồng lúa. Những năm qua, việc sản xuất của gia đình tôi gặp nhiều khó khăn do ảnh hưởng của biến đổi khí hậu. Tuy nhiên, đầu năm 2017, tôi được Viện Nghiên cứu nuôi trồng thủy sản II đầu tư thực hiện dự án mô hình nuôi tôm sú - lúa với gần 2ha. Tôi đã thu hoạch lứa tôm đầu tiên với năng suất đạt khoảng 400kg/ha, cao nhất so từ trước đến nay".
Mô hình tôm sú - trồng lúa đem lại hiệu quả kinh tế cao cho nông dân. Tuy nhiên, nếu người dân chỉ quan tâm đến việc nuôi tôm mà bỏ qua sản xuất lúa thì khả năng sẽ làm mất đi tính hiệu quả của mô hình. Bởi, nếu sản xuất thâm canh tôm sú liên tục thì ao nuôi dễ bị lão hóa, phát sinh nhiều mầm bệnh. Do đó, theo Tiến sĩ Vũ Anh Tuấn, Phân viện trưởng Phân viện Nghiên cứu thủy sản Nam Sông Hậu (thuộc Viện Nghiên cứu nuôi trồng thủy sản II): “Dự án mô hình nuôi tôm sú - trồng lúa ngoài mục đích nâng cao năng suất, chất lượng của con tôm và hạt lúa, còn giúp người dân biết được lợi ích của trồng lúa trong thực hiện mô hình. Qua đó góp phần giúp mô hình tôm sú - trồng lúa ngày càng phát triển bền vững trong điều kiện biến đổi khí hậu như hiện nay”.
Đọc thêm
Vịt Cổ Lũng là giống quý hiếm, con giống di truyền có từ lâu đời, được các thế hệ người Bá Thước, Thanh Hóa gìn giữ, phát triển.
Ðặc sản địa phương
Vịt Cổ Lũng là giống bản địa đã có hơn 100 năm nay, chủ yếu tập trung ở 5 xã là Cổ Lũng, Lũng Niêm, Lũng Cao, Thành Lâm và Thành Sơn. Vịt nuôi nhiều và có thịt ngon nhất là ở xã Cổ Lũng và Lũng Niêm. Trên thị trường, Vịt Cổ Lũng được rất nhiều khách hàng đánh giá là loại có chất lượng thịt ngon nhất, hấp dẫn, khó bỏ hiếm tìm.
Chăn nuôi vịt cổ lũng
Thoạt nhìn, vịt Cổ Lũng giống như vịt bầu, tuy nhiên, có đặc điểm riêng là cổ rụt, chân nhỏ lùn, cổ và đầu thường có lông khoang, lông mướt, con trống có lông đuôi xoăn, cổ ánh cườm biếc. Là loài ưa môi trường sạch sẽ, hay bơi lội tìm kiếm mồi tạp. Có khả năng kháng bệnh tốt, xương nhỏ, thịt nhiều nạc, thơm ngon khó loại vịt nào sánh bằng.
Vịt Cổ Lũng được tiếng thơm ngon, không ngậy và hôi như các loài vịt được nuôi ở các vùng khác bởi do cách thức chăn nuôi đặc biệt, vịt được thả tự nhiên chứ không nuôi nhốt. Dân bản địa nói vui là kiểu “trời nuôi”. Vịt chủ yếu được chăn nuôi ở dòng suối Nũa. Con suối này nước vừa trong lại chảy xuôi liên tục, có nhiều ốc cũng như các loại vi sinh, loài vịt Cổ Lũng thường bơi ngược dòng để đón cá con, bắt ốc nên thịt nạc và săn chắc, thơm ngon vị thanh khiết. Tối về cho ăn thêm ngô, sắn, tuyệt đối không có thức ăn công nghiệp.
Tiềm năng kinh tế
Vịt Cổ Lũng nuôi khoảng 6 tháng bắt đầu đẻ, trọng lượng tầm 3 - 4 tháng tuổi đạt 1,6 - 1,7 kg, sau 4 - 5 tháng nuôi trung bình có thể đạt 1,5 - 2 kg, bình quân nuôi 4 - 5 tháng có thể đạt 1,6 - 2 kg. Trên thị trường hiện nay, vịt mua tại nhà có giá khoảng 80.000 đồng/kg và vịt giống với giá bán bình quân 12.000 - 13.000 đồng/con, lúc cao điểm lên đến 18.000 đồng/con.
Thời gian gần đây, do nhiều nguyên nhân, đàn vịt Cổ Lũng có xu hướng giảm dần về số lượng. Ðứng trước tình hình đó, UBND tỉnh và ngành nông nghiệp Thanh Hoá đã có chủ trương bảo tồn và phát triển giống vịt đặc sản Cổ Lũng. Ðặt hàng những hộ gia đình có đàn vịt Cổ Lũng thuần chủng ở trong vùng để thu mua trứng, sau đó đưa vào máy ấp và cung cấp cho bà con tham gia mô hình. Bà con chăn thả vịt trong môi trường nước sạch tự nhiên nhưng cần khoanh vùng chăn nuôi để lưu giữ giống gốc và kiểm soát dịch bệnh. Công tác vệ sinh, tiêu độc khử trùng được làm thường xuyên.
Trước thực tế giống vịt Cổ Lũng nức tiếng đang đứng trước nguy cơ mai một, Th.S Trương Tiến Hải, người con của địa phương, sau nhiều năm nghiên cứu, trải qua  4 thế hệ lai tạo, anh đã chọn lọc được bộ giống thuần ưng ý nhất. Anh Hải quyết định thuê đất triển khai mô hình trang trại chăn nuôi quy mô 4.000  m2  tại phố Thành Bắc, phường Quảng Thành, TP Thanh Hóa. Anh cho biết, quy trình từ lúc nuôi đến khi thu hoạch thành phẩm kéo dài 4 tháng, nếu dùng thức ăn công nghiệp, trọng lượng mỗi con có thể đạt đến 2,2 kg, áp dụng theo phương thức truyền thống cũng đạt trên 1,8 kg.
Với những kết quả đạt được, trong tương lai, giống vịt Cổ Lũng sẽ trở thành một thương hiệu không chỉ bó hẹp trong phạm vi địa phương.

DTK Biotech-Vet - Vịt Cổ Lũng

Vịt Cổ Lũng là giống quý hiếm, con giống di truyền có từ lâu đời, được các thế hệ người Bá Thước, Thanh Hóa gìn giữ, phát triển.
Ðặc sản địa phương
Vịt Cổ Lũng là giống bản địa đã có hơn 100 năm nay, chủ yếu tập trung ở 5 xã là Cổ Lũng, Lũng Niêm, Lũng Cao, Thành Lâm và Thành Sơn. Vịt nuôi nhiều và có thịt ngon nhất là ở xã Cổ Lũng và Lũng Niêm. Trên thị trường, Vịt Cổ Lũng được rất nhiều khách hàng đánh giá là loại có chất lượng thịt ngon nhất, hấp dẫn, khó bỏ hiếm tìm.
Chăn nuôi vịt cổ lũng
Thoạt nhìn, vịt Cổ Lũng giống như vịt bầu, tuy nhiên, có đặc điểm riêng là cổ rụt, chân nhỏ lùn, cổ và đầu thường có lông khoang, lông mướt, con trống có lông đuôi xoăn, cổ ánh cườm biếc. Là loài ưa môi trường sạch sẽ, hay bơi lội tìm kiếm mồi tạp. Có khả năng kháng bệnh tốt, xương nhỏ, thịt nhiều nạc, thơm ngon khó loại vịt nào sánh bằng.
Vịt Cổ Lũng được tiếng thơm ngon, không ngậy và hôi như các loài vịt được nuôi ở các vùng khác bởi do cách thức chăn nuôi đặc biệt, vịt được thả tự nhiên chứ không nuôi nhốt. Dân bản địa nói vui là kiểu “trời nuôi”. Vịt chủ yếu được chăn nuôi ở dòng suối Nũa. Con suối này nước vừa trong lại chảy xuôi liên tục, có nhiều ốc cũng như các loại vi sinh, loài vịt Cổ Lũng thường bơi ngược dòng để đón cá con, bắt ốc nên thịt nạc và săn chắc, thơm ngon vị thanh khiết. Tối về cho ăn thêm ngô, sắn, tuyệt đối không có thức ăn công nghiệp.
Tiềm năng kinh tế
Vịt Cổ Lũng nuôi khoảng 6 tháng bắt đầu đẻ, trọng lượng tầm 3 - 4 tháng tuổi đạt 1,6 - 1,7 kg, sau 4 - 5 tháng nuôi trung bình có thể đạt 1,5 - 2 kg, bình quân nuôi 4 - 5 tháng có thể đạt 1,6 - 2 kg. Trên thị trường hiện nay, vịt mua tại nhà có giá khoảng 80.000 đồng/kg và vịt giống với giá bán bình quân 12.000 - 13.000 đồng/con, lúc cao điểm lên đến 18.000 đồng/con.
Thời gian gần đây, do nhiều nguyên nhân, đàn vịt Cổ Lũng có xu hướng giảm dần về số lượng. Ðứng trước tình hình đó, UBND tỉnh và ngành nông nghiệp Thanh Hoá đã có chủ trương bảo tồn và phát triển giống vịt đặc sản Cổ Lũng. Ðặt hàng những hộ gia đình có đàn vịt Cổ Lũng thuần chủng ở trong vùng để thu mua trứng, sau đó đưa vào máy ấp và cung cấp cho bà con tham gia mô hình. Bà con chăn thả vịt trong môi trường nước sạch tự nhiên nhưng cần khoanh vùng chăn nuôi để lưu giữ giống gốc và kiểm soát dịch bệnh. Công tác vệ sinh, tiêu độc khử trùng được làm thường xuyên.
Trước thực tế giống vịt Cổ Lũng nức tiếng đang đứng trước nguy cơ mai một, Th.S Trương Tiến Hải, người con của địa phương, sau nhiều năm nghiên cứu, trải qua  4 thế hệ lai tạo, anh đã chọn lọc được bộ giống thuần ưng ý nhất. Anh Hải quyết định thuê đất triển khai mô hình trang trại chăn nuôi quy mô 4.000  m2  tại phố Thành Bắc, phường Quảng Thành, TP Thanh Hóa. Anh cho biết, quy trình từ lúc nuôi đến khi thu hoạch thành phẩm kéo dài 4 tháng, nếu dùng thức ăn công nghiệp, trọng lượng mỗi con có thể đạt đến 2,2 kg, áp dụng theo phương thức truyền thống cũng đạt trên 1,8 kg.
Với những kết quả đạt được, trong tương lai, giống vịt Cổ Lũng sẽ trở thành một thương hiệu không chỉ bó hẹp trong phạm vi địa phương.
Đọc thêm
Đến thăm mô hình chăn nuôi của gia đình ông Đặng Văn Thống (Ấp 5, xã Tân Lộc, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau), mọi người đều thán phục bởi việc dám nghĩ, dám làm cùng quyết tâm vươn lên, không ngại khó khăn để phát triển kinh tế gia đình.
Là hộ đầu tiên và duy nhất trong xã áp dụng mô hình nuôi heo rừng tại nhà, bước đầu ông rất băn khoăn vì mô hình này khá mới tại địa phương, bản thân ông lại chưa có nhiều kinh nghiệm. Tự tìm tòi học hỏi, ông cho xây dựng chuồng trại, tìm mua giống heo rừng từ người quen.
Ông Thống đang cho đàn gà nòi ăn..
Sau gần 1 năm, giờ đây gia đình ông Thống đã có đến 40 con heo rừng. Gia đình ông bán cả heo thịt và heo con, heo mới sinh ra nuôi khoảng 1 tháng rưỡi thì bán heo con, nuôi 3 tháng được khoảng 20 kg thì bán heo thịt. Giá heo con khoảng 2,5 triệu đồng/cặp, heo thịt 150.000 đồng/kg. Thời gian mang thai của heo rừng cũng như heo nhà, khoảng 120 ngày. Heo rừng thường đẻ mỗi năm 2 lứa, mỗi lứa từ 8-12 con.
Chi phí đầu tư nuôi heo rừng không lớn, tiêu tốn ít thức ăn, thời gian nuôi ngắn, sinh sản tốt nên dễ nuôi. Thịt heo rừng thơm ngon rất đặc trưng, nhiều nạc, ít mỡ, hàm lượng cholesterol thấp nên người tiêu dùng rất ưa chuộng. Thức ăn của heo rừng cũng rất đơn giản, chủ yếu là rau củ quả ít cám, gạo, ngũ cốc và thức ăn tinh đạm. Ông Thống trồng ở vườn nhà các loại khoai, rau muống, chuối… để cho heo ăn. Hằng ngày ông xin cặn ở các hộ trong xóm mang về cho heo ăn để tiết kiệm chi phí.
Ông Thống chia sẻ kinh nghiệm: “Không nên cho heo rừng ăn nhiều thức ăn giàu dinh dưỡng như nuôi heo nhà vì sẽ làm phẩm chất thịt biến đổi, có khi bị tiêu chảy. Heo rừng ăn thức ăn tươi xanh, ít uống nước nhưng phải đủ nước cho nó tắm và uống tự do. Lúc đầu khi mới nuôi tôi cũng sợ cực, nhưng nuôi rồi mới biết nuôi heo rừng khoẻ hơn nuôi heo nhà nhiều, chúng có sức đề kháng cao, lại ít bệnh tật. Heo con ra đời không cần đỡ, cắt rốn, chỉ sau nửa tiếng là nó có thể đứng dậy bú sữa mẹ được rồi”.
Chuồng trại để nuôi heo rừng cũng rất đơn giản, nên chọn chỗ cao và thoát nước tốt. Chỗ nuôi nên có nguồn nước sạch, vừa cung cấp đủ nước cho heo uống, vừa duy trì hệ thực vật và giữ độ ẩm cho heo. Hằng ngày phải vệ sinh chuồng trại, dọn sạch các thứ chúng ăn thừa trong máng rồi mới cho thức ăn mới vào.
Ông Thống tự hào cho biết thêm: “Heo này khôn lắm, tôi và vợ vào chuồng cho chúng ăn thì chúng không có phản ứng gì, chứ có người lạ là chúng xừng lông lên liền. Nó dễ nuôi lắm, đói bụng cũng không kêu la gì cả, không cho ăn cũng nín thinh chứ không la hét đòi ăn như heo nhà”.
Hiện nay, khi người nuôi heo nhà đang lao đao vì giá heo sụt giảm nghiêm trọng, không tìm được đầu ra thì gia đình ông Thống vẫn bán heo rừng với giá cao. Ông thường bán heo cho các nhà hàng ở Cà Mau, có bao nhiêu là bán hết bấy nhiêu. Chưa đầy 1 năm kể từ khi nuôi heo rừng tại nhà, gia đình ông Thống đã thu được lợi nhuận hơn 50 triệu đồng. Ông Thống dự định mở các sạp bán thịt heo rừng tại các chợ Cà Mau để tăng thêm thu nhập cho gia đình.
Ngoài ra, ông còn nuôi thêm hơn 200 con gà nòi để bán lấy thịt. Gà nòi khoẻ, dễ nuôi lại là giống tốt, được nhiều người ưa chuộng nên gia đình ông có nguồn thu nhập đáng kể từ việc bán gà nòi.
Ông Nguyễn Thành Được, Chủ tịch Hội Nông dân xã Tân Lộc, huyện Thới Bình, nhận xét: “Mô hình nuôi heo rừng tại nhà của chú Ba Thống là mô hình thí điểm đầu tiên trong xã. Có thể nhận thấy mô hình bước đầu mang lại hiệu quả tích cực. Sắp tới, Hội Nông dân xã sẽ tổ chức họp để bàn bạc và tìm cách tạo điều kiện nhân rộng mô hình này cho bà con trong xã biết và học hỏi”./.

DTK Biotech-Vet - Lão nông dám nghĩ - dám làm

Đến thăm mô hình chăn nuôi của gia đình ông Đặng Văn Thống (Ấp 5, xã Tân Lộc, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau), mọi người đều thán phục bởi việc dám nghĩ, dám làm cùng quyết tâm vươn lên, không ngại khó khăn để phát triển kinh tế gia đình.
Là hộ đầu tiên và duy nhất trong xã áp dụng mô hình nuôi heo rừng tại nhà, bước đầu ông rất băn khoăn vì mô hình này khá mới tại địa phương, bản thân ông lại chưa có nhiều kinh nghiệm. Tự tìm tòi học hỏi, ông cho xây dựng chuồng trại, tìm mua giống heo rừng từ người quen.
Ông Thống đang cho đàn gà nòi ăn..
Sau gần 1 năm, giờ đây gia đình ông Thống đã có đến 40 con heo rừng. Gia đình ông bán cả heo thịt và heo con, heo mới sinh ra nuôi khoảng 1 tháng rưỡi thì bán heo con, nuôi 3 tháng được khoảng 20 kg thì bán heo thịt. Giá heo con khoảng 2,5 triệu đồng/cặp, heo thịt 150.000 đồng/kg. Thời gian mang thai của heo rừng cũng như heo nhà, khoảng 120 ngày. Heo rừng thường đẻ mỗi năm 2 lứa, mỗi lứa từ 8-12 con.
Chi phí đầu tư nuôi heo rừng không lớn, tiêu tốn ít thức ăn, thời gian nuôi ngắn, sinh sản tốt nên dễ nuôi. Thịt heo rừng thơm ngon rất đặc trưng, nhiều nạc, ít mỡ, hàm lượng cholesterol thấp nên người tiêu dùng rất ưa chuộng. Thức ăn của heo rừng cũng rất đơn giản, chủ yếu là rau củ quả ít cám, gạo, ngũ cốc và thức ăn tinh đạm. Ông Thống trồng ở vườn nhà các loại khoai, rau muống, chuối… để cho heo ăn. Hằng ngày ông xin cặn ở các hộ trong xóm mang về cho heo ăn để tiết kiệm chi phí.
Ông Thống chia sẻ kinh nghiệm: “Không nên cho heo rừng ăn nhiều thức ăn giàu dinh dưỡng như nuôi heo nhà vì sẽ làm phẩm chất thịt biến đổi, có khi bị tiêu chảy. Heo rừng ăn thức ăn tươi xanh, ít uống nước nhưng phải đủ nước cho nó tắm và uống tự do. Lúc đầu khi mới nuôi tôi cũng sợ cực, nhưng nuôi rồi mới biết nuôi heo rừng khoẻ hơn nuôi heo nhà nhiều, chúng có sức đề kháng cao, lại ít bệnh tật. Heo con ra đời không cần đỡ, cắt rốn, chỉ sau nửa tiếng là nó có thể đứng dậy bú sữa mẹ được rồi”.
Chuồng trại để nuôi heo rừng cũng rất đơn giản, nên chọn chỗ cao và thoát nước tốt. Chỗ nuôi nên có nguồn nước sạch, vừa cung cấp đủ nước cho heo uống, vừa duy trì hệ thực vật và giữ độ ẩm cho heo. Hằng ngày phải vệ sinh chuồng trại, dọn sạch các thứ chúng ăn thừa trong máng rồi mới cho thức ăn mới vào.
Ông Thống tự hào cho biết thêm: “Heo này khôn lắm, tôi và vợ vào chuồng cho chúng ăn thì chúng không có phản ứng gì, chứ có người lạ là chúng xừng lông lên liền. Nó dễ nuôi lắm, đói bụng cũng không kêu la gì cả, không cho ăn cũng nín thinh chứ không la hét đòi ăn như heo nhà”.
Hiện nay, khi người nuôi heo nhà đang lao đao vì giá heo sụt giảm nghiêm trọng, không tìm được đầu ra thì gia đình ông Thống vẫn bán heo rừng với giá cao. Ông thường bán heo cho các nhà hàng ở Cà Mau, có bao nhiêu là bán hết bấy nhiêu. Chưa đầy 1 năm kể từ khi nuôi heo rừng tại nhà, gia đình ông Thống đã thu được lợi nhuận hơn 50 triệu đồng. Ông Thống dự định mở các sạp bán thịt heo rừng tại các chợ Cà Mau để tăng thêm thu nhập cho gia đình.
Ngoài ra, ông còn nuôi thêm hơn 200 con gà nòi để bán lấy thịt. Gà nòi khoẻ, dễ nuôi lại là giống tốt, được nhiều người ưa chuộng nên gia đình ông có nguồn thu nhập đáng kể từ việc bán gà nòi.
Ông Nguyễn Thành Được, Chủ tịch Hội Nông dân xã Tân Lộc, huyện Thới Bình, nhận xét: “Mô hình nuôi heo rừng tại nhà của chú Ba Thống là mô hình thí điểm đầu tiên trong xã. Có thể nhận thấy mô hình bước đầu mang lại hiệu quả tích cực. Sắp tới, Hội Nông dân xã sẽ tổ chức họp để bàn bạc và tìm cách tạo điều kiện nhân rộng mô hình này cho bà con trong xã biết và học hỏi”./.

Đọc thêm
Sau nhiều năm cần mẫn làm kinh tế trang trại, đến nay, bà Trần Thoại Phương (63 tuổi, thôn Phước Sơn, xã Phước Đồng, TP. Nha Trang) đã trở thành một trong những gương điển hình sản xuất, kinh doanh giỏi của phụ nữ xã Phước Đồng.
Bà Phương quê ở tỉnh Lâm Đồng. Năm 1999, bà đến Khánh Hòa lập nghiệp, quyết tâm làm giàu với nghề chăn nuôi. Sau 13 năm ở nhà thuê, đến nay, bà Phương đã có căn nhà khang trang với đầy đủ tiện nghi, trang trại rộng 8.000m2, với thu nhập khá cao. Để có được kết quả ngày hôm nay, bà đã trải qua thời gian dài lao động vất vả đủ nghề.
Ban đầu, bà Phương thử nghiệm chăn nuôi những con giống mới như rắn mối, thỏ. Do thiếu kinh nghiệm, chưa biết cách chăm sóc nên đàn vật nuôi dễ mắc bệnh, thiệt hại không nhỏ nhưng bà không nản lòng, tiếp tục nuôi lứa khác. Nhờ chịu khó học hỏi cùng phương châm lấy ngắn nuôi dài, bà nuôi vài cặp thỏ sinh sản rồi xuất thỏ thương phẩm. Từ nuôi thỏ hiệu quả, bà tiếp tục học hỏi, đầu tư nuôi bán con giống rắn mối. Từ nguồn tích lũy bán thỏ, rắn mối, bà đầu tư mua đất xây trang trại nuôi bò, gà thịt, heo giống, heo thịt, trồng chuối mốc, khoai mì. Những đợt cao điểm, trong khu chuồng nuôi nhà bà có hơn 1.000 con thỏ, 15.000 con gà, 50 con heo nái, gần 200 con heo thịt cho thu nhập từ 45-55 triệu đồng/tháng. Trang trại của bà còn tạo việc làm cho 10 lao động với thu nhập 3,5 triệu đồng/người/tháng.
Bà Phương chăm đàn heo nái trong trang trại
Dẫn chúng tôi đi tham quan 7 trại nuôi gà, 1 trại nuôi heo của mình, bà Phương cho biết, kinh nghiệm mà bà rút ra trong quá trình phát triển mô hình trang trại là chăn nuôi tập trung mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn chăn nuôi truyền thống. Trong đó, phải chọn những loại con giống đã được khảo nghiệm và được khuyến cáo nhân rộng, tốt nhất là nguồn con giống được sản xuất tại địa phương. Đồng thời, nên kết hợp chăn nuôi đa canh, tổng hợp để hạn chế rủi ro. Hiện nay, khi heo rớt giá, bà giảm số lượng heo và đẩy mạnh nuôi gà. “Chúng tôi rất mong được Nhà nước quan tâm, hỗ trợ phụ nữ những nguồn vốn ưu đãi để phát triển kinh tế bền vững”, bà Phương nói.
Không chỉ mạnh dạn trong phát triển kinh tế gia đình, bà Phương còn là hội viên phụ nữ gương mẫu, nhiệt tình. Những năm qua, bà thường xuyên giúp đỡ về giống, vốn, kinh nghiệm giúp phụ nữ cùng vươn lên làm kinh tế gia đình. Theo bà Phạm Thị Yên - Chủ tịch Hội Phụ nữ xã Phước Đồng, thôn Phước Sơn là vùng đồi núi, cuộc sống của hội viên, phụ nữ còn nhiều khó khăn. Vì thế, tấm gương làm kinh tế giỏi của bà Phương ảnh hưởng rất tích cực đến hội viên, phụ nữ trong thôn, xã, đặc biệt là đối với các hộ đang cố gắng thoát nghèo. Có thể nói, đây là mô hình chăn nuôi trang trại của phụ nữ có trình độ kỹ thuật khá, quy mô lớn trên địa bàn.
BiotechVET tổng hợp theo Báo Khánh Hòa

DTK Biotech-Vet - Làm giàu từ kinh tế trang trại

Sau nhiều năm cần mẫn làm kinh tế trang trại, đến nay, bà Trần Thoại Phương (63 tuổi, thôn Phước Sơn, xã Phước Đồng, TP. Nha Trang) đã trở thành một trong những gương điển hình sản xuất, kinh doanh giỏi của phụ nữ xã Phước Đồng.
Bà Phương quê ở tỉnh Lâm Đồng. Năm 1999, bà đến Khánh Hòa lập nghiệp, quyết tâm làm giàu với nghề chăn nuôi. Sau 13 năm ở nhà thuê, đến nay, bà Phương đã có căn nhà khang trang với đầy đủ tiện nghi, trang trại rộng 8.000m2, với thu nhập khá cao. Để có được kết quả ngày hôm nay, bà đã trải qua thời gian dài lao động vất vả đủ nghề.
Ban đầu, bà Phương thử nghiệm chăn nuôi những con giống mới như rắn mối, thỏ. Do thiếu kinh nghiệm, chưa biết cách chăm sóc nên đàn vật nuôi dễ mắc bệnh, thiệt hại không nhỏ nhưng bà không nản lòng, tiếp tục nuôi lứa khác. Nhờ chịu khó học hỏi cùng phương châm lấy ngắn nuôi dài, bà nuôi vài cặp thỏ sinh sản rồi xuất thỏ thương phẩm. Từ nuôi thỏ hiệu quả, bà tiếp tục học hỏi, đầu tư nuôi bán con giống rắn mối. Từ nguồn tích lũy bán thỏ, rắn mối, bà đầu tư mua đất xây trang trại nuôi bò, gà thịt, heo giống, heo thịt, trồng chuối mốc, khoai mì. Những đợt cao điểm, trong khu chuồng nuôi nhà bà có hơn 1.000 con thỏ, 15.000 con gà, 50 con heo nái, gần 200 con heo thịt cho thu nhập từ 45-55 triệu đồng/tháng. Trang trại của bà còn tạo việc làm cho 10 lao động với thu nhập 3,5 triệu đồng/người/tháng.
Bà Phương chăm đàn heo nái trong trang trại
Dẫn chúng tôi đi tham quan 7 trại nuôi gà, 1 trại nuôi heo của mình, bà Phương cho biết, kinh nghiệm mà bà rút ra trong quá trình phát triển mô hình trang trại là chăn nuôi tập trung mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn chăn nuôi truyền thống. Trong đó, phải chọn những loại con giống đã được khảo nghiệm và được khuyến cáo nhân rộng, tốt nhất là nguồn con giống được sản xuất tại địa phương. Đồng thời, nên kết hợp chăn nuôi đa canh, tổng hợp để hạn chế rủi ro. Hiện nay, khi heo rớt giá, bà giảm số lượng heo và đẩy mạnh nuôi gà. “Chúng tôi rất mong được Nhà nước quan tâm, hỗ trợ phụ nữ những nguồn vốn ưu đãi để phát triển kinh tế bền vững”, bà Phương nói.
Không chỉ mạnh dạn trong phát triển kinh tế gia đình, bà Phương còn là hội viên phụ nữ gương mẫu, nhiệt tình. Những năm qua, bà thường xuyên giúp đỡ về giống, vốn, kinh nghiệm giúp phụ nữ cùng vươn lên làm kinh tế gia đình. Theo bà Phạm Thị Yên - Chủ tịch Hội Phụ nữ xã Phước Đồng, thôn Phước Sơn là vùng đồi núi, cuộc sống của hội viên, phụ nữ còn nhiều khó khăn. Vì thế, tấm gương làm kinh tế giỏi của bà Phương ảnh hưởng rất tích cực đến hội viên, phụ nữ trong thôn, xã, đặc biệt là đối với các hộ đang cố gắng thoát nghèo. Có thể nói, đây là mô hình chăn nuôi trang trại của phụ nữ có trình độ kỹ thuật khá, quy mô lớn trên địa bàn.
BiotechVET tổng hợp theo Báo Khánh Hòa
Đọc thêm
Với 16 bè nuôi cá thát lát cườm, diện tích mỗi bè từ 25 - 200m2, ông Lý Văn Bon tại khu vực 1, phường Bùi Hữu Nghĩa, quận Bình Thủy, TP Cần Thơ thu lãi mỗi vụ cá từ 300 - 400 triệu đồng. Nhờ nắm vững kỹ thuật nuôi, kết hợp với nghiên cứu, tìm hiểu thị trường tiêu thụ, đa dạng sản phẩm cá thát lát chế biến nên kinh tế gia đình ông Bon ngày một khấm khá.
Bè nuôi cá thát lát cườm của ông Lý Văn Bon.
Ông Lý Văn Bon có hơn 7 năm trong nghề nuôi cá điêu hồng. Tuy nhiên, do giá cả bấp bênh, chi phí đầu tư cao, cộng thêm nhiều lúc bị dịch bệnh nên cá nuôi thường hao hụt nhiều, không có lãi, thậm chí thua lỗ. Năm 2007, thấy giá trị của con cá thát lát cườm, ông Bon bắt đầu thả nuôi và gắn bó với con cá này đến bây giờ. Theo ông Bon, muốn nuôi cá thát lát cườm thành công, khâu chọn con giống là quan trọng nhất. Cá giống phải sạch bệnh và nên mua ở những cơ sở uy tín, kích thước đồng đều (khoảng 1cm trở lên), không bị xây xát. Người nuôi phải thường xuyên vệ sinh lồng bè, điều chỉnh lượng thức ăn phù hợp với từng thời điểm sinh trưởng của cá nhằm tránh thất thoát thức ăn và hạn chế ô nhiễm môi trường nước, hạn chế tỷ lệ cá hao hụt. Cá thát lát cườm nuôi trong bè bằng thức ăn công nghiệp tuy chi phí đầu tư cao, nhưng bù lại loại cá này rất dễ nuôi, ít dịch bệnh, tỷ lệ hao hụt thấp và phẩm chất thịt cá ngon, được thị trường ưa chuộng… Người nuôi chỉ cần cho cá ăn đầy đủ, chăm sóc, phòng ngừa bệnh cho cá đúng quy trình kỹ thuật, cá sẽ tăng trưởng đồng đều.
Ông Lý Văn Bon cho biết: Những tháng đầu năm, giá cá thát lát cườm thường xuống thấp do thời điểm này thị trường nguồn cung dồi dào. Đến khoảng tháng 7 và tháng 8, giá cá sẽ tăng trở lại do nguồn cung ít. Cụ thể như vào tháng 7 và 8-2016, cá thát lát cườm được thương lái thu mua từ 60.000 – 70.000 đồng/kg, thậm chí có năm giá cá thương phẩm tăng lên 90.000 đồng/kg. Để tránh tình trạng thua lỗ, ông chia thành nhiều đợt thả cá trong năm nhằm đảm bảo có nguồn cá xuất bán liên tục. Tùy theo quy luật thị trường lên xuống trong năm, ông cân đối sản lượng cung ứng ra thị trường phù hợp.
Theo ông Bon, hiện nay, giá thành nuôi cá thát lát cườm trên bè trong điều kiện sinh trưởng thuận lợi, ít dịch bệnh nằm ở mức 45.000 đồng/kg, bình quân mỗi vụ nuôi kéo dài khoảng 6 tháng, mỗi con đạt trọng lượng khoảng 400 - 500gram. Tuy nhiên, giá cá thương phẩm trên thị trường hiện nay không ổn định, có lúc chỉ còn hơn 40.000 đồng/kg, trong khi giá thức ăn, chi phí đầu tư cho sản xuất liên tục tăng là những khó khăn thường gặp của người nuôi cá thát lát cườm. Do đó, gia đình ông mở thêm Cơ sở sản xuất chả cá Lý Vân để sản xuất cá thát lát thành phẩm. Hằng tháng, cơ sở sản xuất trên 9 tấn cá thành phẩm như: cá thát lát rút xương, chả cá thát lát, cá thát lát muối sả ớt… Giá trung bình cho 2 loại cá thát lát rút xương và chả cá là 190.000 đồng/kg, cá thát lát muối sả ớt giá 130.000 đồng/kg. Thị trường tiêu thụ chủ yếu là các nhà hàng, quán ăn trên địa bàn TP Cần Thơ, tỉnh Bạc Liêu, TP Hồ Chí Minh, Hà Nội… Cơ sở sản xuất chả cá góp phần giải quyết đầu ra cho cá nuôi và tạo việc làm cho nhiều lao động tại địa phương. Chị Dương Thị Lụa, công nhân làm việc tại Cơ sở sản xuất chả cá Lý Vân, chia sẻ: "Tôi làm việc tại cơ sở hơn 1 năm nay, điều kiện làm việc tại đây rất tốt, thu nhập ổn định, trung bình từ 5- 6 triệu đồng/tháng. Những lúc đơn đặt hàng nhiều, chị em làm tăng ca thêm giờ, thu nhập cũng được 7-8 triệu đồng/tháng".
Ông Trần Văn Bảy Mươi Lăm, Phó Chủ tịch Hội Nông dân quận Bình Thủy, nhận xét: "Ông Lý Văn Bon phát triển mô hình nuôi cá bè tại Cồn Sơn nhiều năm qua. Trong quá trình sản xuất, ông Bon luôn học hỏi kinh nghiệm, kỹ thuật sản xuất phù hợp nên mô hình nuôi cá thát lát cườm kết hợp chế biến chả cá của ông Bon luôn cho hiệu quả kinh tế cao. Đồng thời, ông cũng tích cực hỗ trợ, chia sẻ kinh nghiệm chăn nuôi với các hộ xung quanh, phối hợp tích cực với các nhà vườn làm du lịch tại Cồn Sơn cung cấp sản phẩm từ cá phục vụ khách tham quan…Với mô hình làm kinh tế hiệu quả, năm 2016, ông Bon đạt danh hiệu nông dân sản xuất kinh doanh giỏi cấp thành phố. Đây là mô hình đang được Hội Nông dân quận Bình Thủy nghiên cứu phát huy và nhân rộng, góp phần chuyển dịch cơ cấu vật nuôi trong nông nghiệp, tăng thu nhập cho nông dân".

DTK Biotech-Vet - Nuôi cá thát lát cườm cho lợi nhuận cao

Với 16 bè nuôi cá thát lát cườm, diện tích mỗi bè từ 25 - 200m2, ông Lý Văn Bon tại khu vực 1, phường Bùi Hữu Nghĩa, quận Bình Thủy, TP Cần Thơ thu lãi mỗi vụ cá từ 300 - 400 triệu đồng. Nhờ nắm vững kỹ thuật nuôi, kết hợp với nghiên cứu, tìm hiểu thị trường tiêu thụ, đa dạng sản phẩm cá thát lát chế biến nên kinh tế gia đình ông Bon ngày một khấm khá.
Bè nuôi cá thát lát cườm của ông Lý Văn Bon.
Ông Lý Văn Bon có hơn 7 năm trong nghề nuôi cá điêu hồng. Tuy nhiên, do giá cả bấp bênh, chi phí đầu tư cao, cộng thêm nhiều lúc bị dịch bệnh nên cá nuôi thường hao hụt nhiều, không có lãi, thậm chí thua lỗ. Năm 2007, thấy giá trị của con cá thát lát cườm, ông Bon bắt đầu thả nuôi và gắn bó với con cá này đến bây giờ. Theo ông Bon, muốn nuôi cá thát lát cườm thành công, khâu chọn con giống là quan trọng nhất. Cá giống phải sạch bệnh và nên mua ở những cơ sở uy tín, kích thước đồng đều (khoảng 1cm trở lên), không bị xây xát. Người nuôi phải thường xuyên vệ sinh lồng bè, điều chỉnh lượng thức ăn phù hợp với từng thời điểm sinh trưởng của cá nhằm tránh thất thoát thức ăn và hạn chế ô nhiễm môi trường nước, hạn chế tỷ lệ cá hao hụt. Cá thát lát cườm nuôi trong bè bằng thức ăn công nghiệp tuy chi phí đầu tư cao, nhưng bù lại loại cá này rất dễ nuôi, ít dịch bệnh, tỷ lệ hao hụt thấp và phẩm chất thịt cá ngon, được thị trường ưa chuộng… Người nuôi chỉ cần cho cá ăn đầy đủ, chăm sóc, phòng ngừa bệnh cho cá đúng quy trình kỹ thuật, cá sẽ tăng trưởng đồng đều.
Ông Lý Văn Bon cho biết: Những tháng đầu năm, giá cá thát lát cườm thường xuống thấp do thời điểm này thị trường nguồn cung dồi dào. Đến khoảng tháng 7 và tháng 8, giá cá sẽ tăng trở lại do nguồn cung ít. Cụ thể như vào tháng 7 và 8-2016, cá thát lát cườm được thương lái thu mua từ 60.000 – 70.000 đồng/kg, thậm chí có năm giá cá thương phẩm tăng lên 90.000 đồng/kg. Để tránh tình trạng thua lỗ, ông chia thành nhiều đợt thả cá trong năm nhằm đảm bảo có nguồn cá xuất bán liên tục. Tùy theo quy luật thị trường lên xuống trong năm, ông cân đối sản lượng cung ứng ra thị trường phù hợp.
Theo ông Bon, hiện nay, giá thành nuôi cá thát lát cườm trên bè trong điều kiện sinh trưởng thuận lợi, ít dịch bệnh nằm ở mức 45.000 đồng/kg, bình quân mỗi vụ nuôi kéo dài khoảng 6 tháng, mỗi con đạt trọng lượng khoảng 400 - 500gram. Tuy nhiên, giá cá thương phẩm trên thị trường hiện nay không ổn định, có lúc chỉ còn hơn 40.000 đồng/kg, trong khi giá thức ăn, chi phí đầu tư cho sản xuất liên tục tăng là những khó khăn thường gặp của người nuôi cá thát lát cườm. Do đó, gia đình ông mở thêm Cơ sở sản xuất chả cá Lý Vân để sản xuất cá thát lát thành phẩm. Hằng tháng, cơ sở sản xuất trên 9 tấn cá thành phẩm như: cá thát lát rút xương, chả cá thát lát, cá thát lát muối sả ớt… Giá trung bình cho 2 loại cá thát lát rút xương và chả cá là 190.000 đồng/kg, cá thát lát muối sả ớt giá 130.000 đồng/kg. Thị trường tiêu thụ chủ yếu là các nhà hàng, quán ăn trên địa bàn TP Cần Thơ, tỉnh Bạc Liêu, TP Hồ Chí Minh, Hà Nội… Cơ sở sản xuất chả cá góp phần giải quyết đầu ra cho cá nuôi và tạo việc làm cho nhiều lao động tại địa phương. Chị Dương Thị Lụa, công nhân làm việc tại Cơ sở sản xuất chả cá Lý Vân, chia sẻ: "Tôi làm việc tại cơ sở hơn 1 năm nay, điều kiện làm việc tại đây rất tốt, thu nhập ổn định, trung bình từ 5- 6 triệu đồng/tháng. Những lúc đơn đặt hàng nhiều, chị em làm tăng ca thêm giờ, thu nhập cũng được 7-8 triệu đồng/tháng".
Ông Trần Văn Bảy Mươi Lăm, Phó Chủ tịch Hội Nông dân quận Bình Thủy, nhận xét: "Ông Lý Văn Bon phát triển mô hình nuôi cá bè tại Cồn Sơn nhiều năm qua. Trong quá trình sản xuất, ông Bon luôn học hỏi kinh nghiệm, kỹ thuật sản xuất phù hợp nên mô hình nuôi cá thát lát cườm kết hợp chế biến chả cá của ông Bon luôn cho hiệu quả kinh tế cao. Đồng thời, ông cũng tích cực hỗ trợ, chia sẻ kinh nghiệm chăn nuôi với các hộ xung quanh, phối hợp tích cực với các nhà vườn làm du lịch tại Cồn Sơn cung cấp sản phẩm từ cá phục vụ khách tham quan…Với mô hình làm kinh tế hiệu quả, năm 2016, ông Bon đạt danh hiệu nông dân sản xuất kinh doanh giỏi cấp thành phố. Đây là mô hình đang được Hội Nông dân quận Bình Thủy nghiên cứu phát huy và nhân rộng, góp phần chuyển dịch cơ cấu vật nuôi trong nông nghiệp, tăng thu nhập cho nông dân".
Đọc thêm
Đó là anh Hà Văn Minh, hội viên cựu chiến binh (CCB) ở khu vực Phụ Quang, phường Nhơn Hòa, TX An Nhơn, tỉnh Bình Định. Anh Minh thổ lộ: “Năm 1985 tui nhập ngũ, tham gia chiến đấu ở chiến trường Campuchia; đến tháng 10.1988 thì phục viên về địa phương. Bây giờ nhìn lại, sau nhiều năm tập trung phát triển kinh tế gia đình, có “của ăn, của để” là nhờ biết chọn đúng đối tượng chăn nuôi”.
CCB Hà Văn Minh chăm sóc đàn bò. Ảnh: X.Thức
Đất vườn rộng và gần sông, anh chọn nuôi vịt đẻ. Ngoài việc tìm hiểu tài liệu, học hỏi những người đi trước, anh còn tham gia đầy đủ các lớp tập huấn chăn nuôi do Hội CCB và Hội Nông dân phường tổ chức. Nhờ nắm vững kiến thức nên mạnh dạn đầu tư chuồng trại nuôi từ 1.500 đến 2.000 con vịt đẻ. Anh luôn chú trọng định kỳ tiêm vắc-xin phòng bệnh dịch tả, cúm gia cầm và thường xuyên tiêu độc sát trùng chuồng trại, nên đàn vịt nuôi tránh được dịch bệnh, cho trứng đạt 80% trở lên; trừ chi phí mỗi ngày anh còn lãi 500 ngàn đồng.
Ngoài ra, anh còn nuôi 3 con bò cái lai, 2 con trâu sinh sản kiêm luôn làm dịch vụ kéo cộ trâu, làm 3 sào ruộng, mỗi năm trừ chi phí thu nhập thêm gần 40 triệu đồng. Không chỉ cần cù, chăm chỉ phát triển kinh tế gia đình, anh còn giúp đỡ 4 - 5 hộ trong thôn, trong đó có anh em CCB cùng mở gia trại chăn nuôi có hiệu quả.
Nhận xét về CCB Hà Văn Minh, ông Lê Văn Nguyện, Chủ tịch Hội CCB phường Nhơn Hòa, chia sẻ: Anh Minh là CCB sản xuất giỏi của địa phương, nhiều năm liền đạt gia đình văn hóa tiêu biểu. Anh tích cực tham gia sinh hoạt hội, đi đầu trong mọi phong trào, giúp đỡ các hội viên CCB khó khăn vươn lên thoát nghèo...
BiotechVET tổng hợp theo Báo Bình Định

DTK Biotech-Vet - Làm giàu từ chăn nuôi gia trại

Đó là anh Hà Văn Minh, hội viên cựu chiến binh (CCB) ở khu vực Phụ Quang, phường Nhơn Hòa, TX An Nhơn, tỉnh Bình Định. Anh Minh thổ lộ: “Năm 1985 tui nhập ngũ, tham gia chiến đấu ở chiến trường Campuchia; đến tháng 10.1988 thì phục viên về địa phương. Bây giờ nhìn lại, sau nhiều năm tập trung phát triển kinh tế gia đình, có “của ăn, của để” là nhờ biết chọn đúng đối tượng chăn nuôi”.
CCB Hà Văn Minh chăm sóc đàn bò. Ảnh: X.Thức
Đất vườn rộng và gần sông, anh chọn nuôi vịt đẻ. Ngoài việc tìm hiểu tài liệu, học hỏi những người đi trước, anh còn tham gia đầy đủ các lớp tập huấn chăn nuôi do Hội CCB và Hội Nông dân phường tổ chức. Nhờ nắm vững kiến thức nên mạnh dạn đầu tư chuồng trại nuôi từ 1.500 đến 2.000 con vịt đẻ. Anh luôn chú trọng định kỳ tiêm vắc-xin phòng bệnh dịch tả, cúm gia cầm và thường xuyên tiêu độc sát trùng chuồng trại, nên đàn vịt nuôi tránh được dịch bệnh, cho trứng đạt 80% trở lên; trừ chi phí mỗi ngày anh còn lãi 500 ngàn đồng.
Ngoài ra, anh còn nuôi 3 con bò cái lai, 2 con trâu sinh sản kiêm luôn làm dịch vụ kéo cộ trâu, làm 3 sào ruộng, mỗi năm trừ chi phí thu nhập thêm gần 40 triệu đồng. Không chỉ cần cù, chăm chỉ phát triển kinh tế gia đình, anh còn giúp đỡ 4 - 5 hộ trong thôn, trong đó có anh em CCB cùng mở gia trại chăn nuôi có hiệu quả.
Nhận xét về CCB Hà Văn Minh, ông Lê Văn Nguyện, Chủ tịch Hội CCB phường Nhơn Hòa, chia sẻ: Anh Minh là CCB sản xuất giỏi của địa phương, nhiều năm liền đạt gia đình văn hóa tiêu biểu. Anh tích cực tham gia sinh hoạt hội, đi đầu trong mọi phong trào, giúp đỡ các hội viên CCB khó khăn vươn lên thoát nghèo...
BiotechVET tổng hợp theo Báo Bình Định
Đọc thêm